Thời xưa, một học giả người Trung Quốc đã nhận định “Lấy dân làm gốc, ruộng đất và lương thực là thứ hai, cuối cùng thứ ba mới đến chủ quyền bờ cõi quốc gia”, hơn nữa việc cai trị một quốc gia cần được người dân hậu thuẫn theo một phương thức nhất định. 

Đó là những lời răn dạy của một nhà thông thái tên là Mạnh Tử (372-289 TCN), ông được coi là nhà triết học có tầm ảnh hưởng đứng thứ hai trong lịch sử Trung Quốc. Hầu hết các nhà Hán học đều xếp Khổng Tử (551-479 TCN) vào vị trí thứ nhất. Mạnh Tử là môn đệ của Khổng Tử, hai người đàn ông này là những nhà triết học lỗi lạc của Trung Quốc, họ nổi tiếng đến mức tên của họ đã được Latinh hoá để sử dụng ở phương Tây. 

Mạnh Tử đã đúc kết những lời răn dạy của Khổng Tử và những lời thuyết giáo của các vị trưởng lão làm nổi bật tư tưởng tự do điều mà những người yêu tự do ngày nay coi là tư tưởng tự do cổ điển của thế kỷ 19. 

Trong cuốn “100: Bảng xếp hạng những người có ảnh hưởng nhất trong lịch sử”, Michael Hart đã nhấn mạnh trong số các nguyên tắc được học giả cổ đại này đề cao là thương mại tự do, thuế nhẹ và quyền cải cách của người dân:

“Mạnh Tử cho rằng quyền lực của một vị vua bắt nguồn từ Thiên thượng; và nếu một vị vua không quan tâm đến dân chúng, thì vị vua đó cần phải bị lật đổ. Phần nặng của câu nói nằm ở vế sau. Một điều mà Mạnh Tử đã làm nổi bật đó chính là nhân dân có quyền nổi dậy chống lại những kẻ thống trị bất công. Đó là một tư tưởng được người dân tiếp nhận hết sức rộng rãi ở Trung Quốc. Và giờ đây, khoảng 22 thế kỷ sau, tư tưởng của ông vẫn đang được nghiên cứu ở nhiều nơi trên thế giới, chiếm khoảng 20% dân số thế giới. Quả là hiếm có một nhà thông thái nào lại có thể thu hút được sự quan tâm lớn đến vậy“. 

James Legge, nhà ngôn ngữ học Scotland ở thế kỷ 19 và là người có thẩm quyền đối với một số văn bản cổ của Trung Quốc, lưu ý rằng Mạnh Tử không phải là “người được các nhà cai trị Trung Quốc yêu mến” bởi vì, giống như nhiều nhà Nho lỗi lạc khác, ông không tin vào “quyền lực tối thượng” của bất kỳ một vị lãnh tụ nào. Hàng trăm năm sau thời của Mạnh Tử, người châu Âu cuối cùng cũng đi đến một kết luận tương tự.

Mạnh Tử cho rằng các nhà lãnh đạo phải có tư cách đạo đức cao và đối xử phù hợp với “thần dân” của họ. Quy tắc của các vị lãnh tụ phải là một “sự quản lý có chừng mực” nhằm thúc đẩy người dân duy trì một cuộc sống có đạo đức. Và vì những giáo lý đúng đắn này, mà Khổng Tử luôn được những người bị trị mến mộ và tôn kính hơn nhiều so với những kẻ cai trị. 

Paul Meany có viết “Mạnh tử không đồng tình với các cách tiếp cận cưỡng chế từ trên xuống”. Mạnh tử đã thể hiện quan điểm của ông qua câu chuyện về một người nông dân:

“Một ngày nọ, một người nông dân đi thăm ruộng lúa của gia đình. Thấy rằng lúa của nhà mình vẫn chưa thể thu hoạch, lo lắng quá, ông bèn co kéo các bông lúa non để cho chúng lớn nhanh hơn. Ông về nhà rồi kể cho mọi người biết chuyện. Về sau, con trai ông ra thăm ruộng thì thấy lúa đều bị héo teo. Đạo lý của câu chuyện là người ta không thể ép buộc ‘một người phụ nữ phải đẻ, khi chưa đến thời điểm thích hợp’. Thay vào đó, người ta phải cung cấp môi trường tối ưu cho sự phát triển. Tương tự như vậy, con người thăng hoa về mặt đạo đức không phải do mệnh lệnh hay trừng phạt ”.

Một nhóm người tìm cách thống trị người khác thì mặc định rằng những người như vậy là những kẻ đạt ít tiêu chuẩn nhất để làm việc đó. Quả thực, hoạt động của chính phủ chỉ nên coi là nghề nghiệp và đương nhiên những người đủ tiêu chuẩn nhất là những người không dùng mọi thủ đoạn để có được những vị trí đó. 

Thomas Jefferson thấy làm khó hiểu để hình dung một kẻ có thể cảm thấy thỏa mãn khi thực thi quyền lực đối với người khác. Còn JRR Tolkien thì cho rằng điều không đáng làm nhất của một người đàn ông (thậm chí là ngay cả với một vị thánh) là cai quản những người khác. Tỉ lệ 1/1 triệu người trong xã hội vẫn còn là lớn, chưa nói đến tỉ lệ trong những kẻ cơ hội. 

Nhiều thế kỷ trước, Mạnh Tử đã viết: “Người cao thượng tự hào về ba điều, nhưng trở thành vương cai trị lại không phải là một trong ba điều ấy. Vậy đó là gì? Điều thứ nhất là cha mẹ của họ còn sống, rồi anh em trong nhà hoà thuận. Thứ hai là không phạm điều ác để đắc tội với Thiên thượng, và không làm điều trái lương tâm để phải hổ thẹn với mọi người trong xã hội. Điều cuối cùng là có thể giáo huấn và truyền đạo cho những nhân tài quốc gia.

Năm 1949, khi Mao Trạch Đông hậu thuẫn chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc, lãnh tụ này đã tìm cách tiêu diệt tư tưởng của Mạnh Tử, điều mà ông cho là suy vi và cổ hủ của truyền thống phong kiến. Lý do thực sự ẩn sau là Mao không thể dung thứ cho một nhà triết học người mà có thể phổ biến tư tưởng khuyến khích dân chúng dám đặt vấn đề với giới quyền lực; bảo hộ thương mại tự do và tài sản tư nhân; rồi xếp gia đình của họ lên trên Nhà nước dưới bất kỳ hình thức hay theo bất kỳ cách nào. 

Đối với Mạnh Tử, mục đích của Nhà nước không phải để phục vụ tập thể lãnh đạo hoặc coi người dân như nông nô hay bù nhìn, mà là tạo ra một môi trường để các cá nhân có thể phát triển. Nhà nước cần rèn luyện đức tính tốt để làm gương tốt. Việc đánh thuế của Nhà nước không được vượt quá một phần chín những gì mà mọi người đã sản xuất. Và Nhà nước không nên cố định giá cả trên thị trường. “Nếu một đôi giày tốt và một đôi giày kém chất lượng có cùng giá, liệu có ai cố gắng làm ra đôi giày tốt không?”.

Paul Meany nhấn mạnh rằng Mạnh Tử lên án những kẻ thống trị đánh thuế nặng và rồi sau đó phô trương lối sống xa xỉ của mình. Một câu chuyện kể rằng một vị vua hỏi Mạnh Tử: liệu có thể giảm thuế nặng đã áp vào dân chúng được chăng? Mạnh Tử ví von ‘Giả sử có một người cứ mỗi ngày lại chiếm đoạt một con gà của người hàng xóm. Một hôm, có người bảo anh ta, đó không phải là cách hành xử của người quân tử và anh ta hỏi lại liệu anh ta có thể chỉ chiếm đoạt một con gà mỗi tháng có được không, rồi đợi đến năm sau thì thôi, không lấy gì nữa. Cuối cùng Mạnh Tử rất thẳng thắn ‘Một khi cảm thấy không chính đáng thì nên dừng lại ngay’. 

Những nhà Nho như Mạnh Tử thừa nhận rằng nhà nước không phải là toàn quyền. Và ngay cả khi bằng thủ đoạn nào đó, họ có đủ quyền lực để cai trị tầm vi mô mọi khía cạnh của cuộc sống, thì cách vận hành như vậy sẽ là vô nhân đạo. Những người theo đạo Khổng coi trọng tự do và sống theo châm ngôn ‘Đừng áp đặt lên người khác những điều mà bản thân không muốn.’

Nhiều người cho rằng tự do dân chủ và hạn chế quyền lực của chính phủ chỉ xảy ra ở xã hội phương Tây; tuy nhiên chính các học giả như Khổng Tử và Mạnh Tử đã đề cập đến vấn đề này cách đây hơn hai thiên niên kỷ. Họ đã xác định tự do và giới hạn của chính phủ là những yếu tố đạo đức. Họ đã quan niệm rằng một chính phủ cồng kềnh và hống hách là kẻ thù của đức hạnh. Những điều thông thái như vậy đã có từ ngàn xưa. 

Theo FEE
Văn Sơn biên dịch

Từ Khóa: