Thời xưa khi các quan nước Việt đi xứ phương bắc, đôi khi họ không cần ‘phiên dịch viên’ mà chỉ cần một cây bút, tức dùng Hán tự để trao đổi với nhau, đây được gọi là ‘bút đàm’. Từ đó thấy được một tính chất rất thú vị nữa của Hán tự đó là: Tự hình vượt biên giới…

Tự hình ‘vượt biên giới’

Hán tự giải quyết được vấn đề ‘đồng âm’

Ở các phần trước đã đề cập đến hai đặc điểm nổi bật của chữ Hán (Hán tự) đó là: Dung lượng thông tin to lớnhiệu quả tạo mã tối đa. Trong phần này sẽ nói đến một tính chất nữa của chữ Hán đó là: Tự hình vượt biên giới.

Trước tiên phân tích một chút về tính chất của chữ Hán với ngôn ngữ khác. 

Các ngôn ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt v.v. là dùng cách ghép ghép các chữ cái lại với nhau để đọc, chỉ cần biết được chữ cái và quy tắc phát âm thì có thể đọc được hoặc viết được.

Cách này khá thuận tiện, nhưng lại xuất hiện một vấn đề đó là: mỗi nơi có ‘phương ngữ’ (tiếng địa phương) khác nhau dẫn đến ‘cách phát âm khác nhau sẽ có cách viết khác nhau’. Do đó cách ghép chữ này không giải quyết được vấn đề ‘phương ngữ’. Đây là điểm thứ nhất. 

Thứ hai, trong quá trình phát triển sẽ có thêm từ mới, nếu phát âm khác nhau thì chữ viết cũng khác nhau, cho nên hậu thế khi quay lại đọc sách cổ sẽ không hiểu được cổ nhân địa phương nói gì.

Nhưng chữ Hán giải quyết được vấn đề này. Nó tách biệt được phần ‘Tự Âm’ (字音: âm của chữ) và ‘Tự Hình’ (字形: hình dáng chữ). Điều này nghĩa là các địa phương tuy có ‘phương ngữ’ khác nhau, nhưng cùng chung một mặt chữ. 

Tiện lợi cho việc trao đổi và truyền thừa văn hoá

Một quốc gia rộng lớn có nhiều dân tộc nói những thứ tiếng (âm) khác nhau, nhưng trên văn tự (hình) thì giống nhau, điều này tiện cho việc giao lưu trao đổi giữa các vùng mà không gặp quá nhiều chướng ngại. 

Ví như người Hồng Kông nói tiếng Quảng Đông, còn người Đại lục nói tiếng Phổ thông; nhưng khi người Đại lục qua Hồng Kông, họ nhìn các biển hiệu hoặc tên món ăn ở Hồng Kông thì họ hiểu đó là gì. Hay như người Trung Quốc qua Hàn Quốc, Nhật Bản thậm chí Việt Nam, nhìn vào Hán tự trong các chùa họ vẫn hiểu được.

Một chiếc chuông trong chùa Thanh Lương dùng Hán tự để ghi thông tin chùa, người cúng dường, thông số chuông v.v.

Biết được điều này chúng ta mới hiểu vì sao ngày xưa khi các quan nước Việt đi sứ, đôi khi họ không cần người phiên dịch, mà chỉ cần mang theo bút, tức là viết Hán tự để trao đổi, đây gọi là ‘bút đàm’ (đàm luận bằng bút). Chẳng phải những điều trên đã cho thấy Hán tự có thể vượt được biên giới về không gian hay sao?

Chưa dừng lại ở đó, Hán tự còn vượt được biên giới thời gian. Trong cuốn ‘Trung Hoa văn minh sử’ quyển hạ, Giáo sư Chương Thiên Lượng có chia sẻ về việc Hán tự có lợi cho việc truyền thừa văn hoá như sau:

Chúng ta biết rằng mỗi một vương triều đều định đô ở những địa phương khác nhau, có vương triều định đô ở Tây An, có cái ở Lạc Dương, Hàng Châu, hoặc Bắc Kinh. Phát âm tiếng địa phương các vùng đó đều khác nhau, nhưng ‘tự hình’ thì vô cùng ổn định; do đó văn minh mà Hán tự truyền tải được truyền thừa liên tục, người ta có thể đọc hiểu sách cổ từ mấy ngàn năm trước.

Các nền văn minh khác không có điều kiện như thế, giống như văn minh Babylon cổ đại, Ai Cập cổ đại, Maya cổ đại, không ai có thể đọc hiểu được văn tự của họ. Dù bạn muốn khôi phục lịch sử, khoa học, hình thái xã hội của họ v.v. bạn không có cách nào tìm được manh mối từ trên văn tự.

Chúng ta hiện nay vẫn có thể đọc hiểu được văn tự 3000 năm trước, thậm chí xa hơn nữa như văn tự Giáp Cốt, đều có thể liễu giải được. Điều này đảm bảo tính liên tục cho nền văn minh.

Vì tự hình của Hán tự không thay đổi nhiều, nên con người hiện tại vẫn đọc được văn tự cách đây cả ngàn năm, tôi cho rằng: ngoài vượt được về không gian địa lý, Hán tự còn được biên giới thời gian mà truyền đến ngày nay.

Tại sao gọi Hán tự là chữ truyền thống?

Trên thực tế không phải những thứ xuất hiện lâu đời đều gọi là truyền thống, mà phải là những điều chính thống được truyền lại mới gọi là truyền thống. Những điều truyền thống lại do Thần hoặc Thánh truyền xuất, chứ không phải con người hay thứ phụ diện truyền. 

Ví như nghề làm lúa do Thần Nông truyền; đào giếng, làm nhà, đóng thuyền, lịch pháp, kim chỉ nam… là do Hiên Viên Hoàng Đế truyền; nghề nuôi tằm dệt lụa là do người vợ của Hiên Viên Hoàng Đế – bà Loa Tổ truyền; nghề mộc do Lỗ Ban truyền v.v. Những vị ‘tổ’ trên đều là Thần hoặc Thánh. 

Do đó khi chúng ta nói rằng ‘văn hoá truyền thống’ là ‘văn hoá Thần truyền’ thì không có gì phải bàn cãi. Vậy tại sao Hán tự được gọi là chữ truyền thống?

Tương truyền người tạo ra Hán tự là một vị Thần tên Thương Hiệt – Sử quan của Hiên Viên Hoàng Đế. Ông là người có 4 con mắt, từ 4 con mắt đó phát ra ánh sáng dị thường. Trong ‘Xuân Thu nguyên mệnh bao’ viết rằng: “Thương Hiệt nghiên cứu biến hoá của thiên địa, ngẩng đầu quan sát hình thế viên tròn hay gấp khúc của sao Khuê, cúi đầu quan sát hoa văn mai rùa, chim muông, sông núi, nắm rõ như lòng bàn tay mà sáng tạo ra văn tự”. Nói điều này có thể nhiều người cảm thấy khó tin, nhưng từ thời Tam Hoàng đến Hiên Viên Hoàng Đế là thời kỳ ‘Nhân Thần đồng tại’. 

Hán tự có từ rất lâu, tức thời Hiên Viên Hoàng Đế cách đây gần 5000 năm, hơn nữa còn do một vị Thần sáng tạo ra, cho nên mới gọi Hán tự là chữ truyền thống.

Vì do Thần tạo, nên Hán tự có nội hàm thâm sâu, thể hiện được bản chất vấn đề ở một tầng nào đó. Tôi lấy ví dụ, hiện nay nhiều bậc phụ huynh đang đau đầu vì không biết dạy con trẻ ra sao, nhưng khi nhìn vào văn tự truyền thống, chúng ta sẽ có được một gợi ý quan trọng. 

Ví như chữ Giáo (教: dạy dỗ) gồm chữ Hiếu (孝) đặt bên cạnh bộ Phốc (攴: tác động nhẹ), hàm ý rằng: bản chất của giáo dục là bắt đầu từ đạo Hiếu, sau đó tiếp tục tác động dẫn dắt trở thành người có đầy đủ phẩm chất tốt đẹp.

Bây giờ thử hỏi có đứa trẻ nào mỗi sáng thức dậy liền vấn an cha mẹ rằng ‘Cha mẹ ngủ có ngon không?’, hay là cha mẹ lúc nào cũng đội con lên đầu như những ‘tiểu hoàng đế’, ‘tiểu công chúa’? Do đó nếu thấy được bản chất của giáo dục, ta sẽ biết nuôi dạy trẻ như thế nào. Những ví dụ về phân tích Hán tự để tìm đạo lý như trên có rất nhiều. 

Chữ truyền thống mang nội hàm và truyền tải đạo lý, nó đã vượt qua được biên giới của một ngôn ngữ thông thường. Những đặc điểm độc đáo như trên đã khiến Hán tự là ngôn ngữ cao quý; tuy rằng hơi khó học, nhưng cũng là điều đáng để chúng ta thử sức.

Mạn Vũ

Chú thích: Trong phần 3 đã giới thiệu về câu đố dạng chiết tự chữ Hán của Nhóm ‘Đại Việt Hán văn hội’ đăng ngày Mùng 7 Tết 2021 (18/2/2021), còn bây giờ là phần đáp án đính kèm:

  1. Chữ đâu ba lớp ba tầng
    Soi bên mặt nước một vầng trăng xưa
    ->Chữ Hồ (湖: hồ nước). Chữ Hồ gồm bộ Thuỷ ( 氵: nước), Cổ (古: cũ, xưa) và Nguyệt (月: Mặt Trăng).
  2. Sức nào so được sức này
    Quanh năm suốt tháng đi cày ruộng sâu
    -> Chữ Nam (男: đàn ông), gồm chữ Lực (力: sức lực) và chữ Điền (田: ruộng).
  3. Chữ đâu óng ánh lạ thường
    Vầng trăng buổi tối, vầng dương ban ngày
    -> Chữ Minh (明: sáng, rõ), gồm chữ Nhật (日: Mặt trời) và chữ Nguyệt (月:Mặt Trăng).
  4. Áo quần chải chuốt, lượt là
    Mang theo một miệng đi ra ngoài đồng
    -> Thành viên trong group giải là chữ Phúc (福: phúc, phước), nhưng cá nhân tôi thấy chưa chuẩn lắm.
    Bởi vì chữ Phúc có bộ Thị (礻:bàn thờ, bàn tế thần) chứ không phải bộ Y (衤: y phục). Do đó đáp án chuẩn hơn nên là chữ Phó (褔: đầy, sung mãn; lượng từ đếm bộ quần áo).