Đến ngày Valentine 14/2, các cặp đôi hoặc những người yêu nhau có xu hướng tặng hoa hồng, sô-cô-la, thiệp chúc v.v. cho nửa kia của mình. 

Bề ngoài, ngày Lễ Tình nhân cho chúng ta cảm giác là thế giới tôn vinh tình yêu đôi lứa, nhưng khi tìm hiểu thật sự, thì Valentine là tên một vị Thánh tử vì đạo trong Cơ Đốc giáo. Vậy thì nguồn gốc của ngày Valentine là gì, ý nghĩa ngày ấy liệu có vượt trên tình yêu đôi lứa?

Trong Chính luận thiên hạ đăng ngày 15/2/2021, nhân hôm đó là cuối tuần không có nhiều tin tức thời sự, Giáo sư Chương Thiên Lượng đã mạn đàm một chút về ngày Valentine, từ đó liên hệ đến sự trân quý của tự do tín ngưỡng, độ khó của ‘sáng nghiệp’ – ‘thủ thành’, và góc nhìn về hiện trạng xã hội hiện nay như sau.

Nguồn gốc ngày Valentine: Tưởng nhớ vị Thánh cùng tên tử vì đạo

Ở phương tây, ngày 14/2 gọi là ngày Lễ Tình nhân; còn ở phương đông, vào ngày Thất tịch (7/7) âm lịch cũng gọi là ngày Lễ Tình nhân với câu chuyện Ngưu Lang, Chức Nữ.

Nếu gọi cho chuẩn xác thì ngày 14/2 có tên là ngày Valentine (Valentine’s Day). Bởi vì ngày lễ này để tưởng nhớ một vị giám mục là Saint Valentine (Thánh Valentine), ông tử vì đạo năm 273 SCN.

Chúng ta biết rằng, khi Cơ Đốc giáo vừa mới xuất hiện ở Đế quốc La Mã thì bị Hoàng đế La Mã trấn áp rất ghê gớm. Cơ Đốc giáo bị bức hại gần 300 năm, nhưng sự bức hại này không duy trì liên tục, nghĩa là bức hại hại xong rồi dừng, rồi lại bức hại. Hoàng đế trước đó có thể đối đãi tốt với Cơ Đốc giáo tốt hơn một chút, nhưng Hoàng đế tiếp theo có thể đối xử với Cơ Đốc giáo rất tàn khốc.

Thời đó có một người là Thánh Valentine truyền giáo ở Ý đúng vào lúc Hoàng đế La Mã bấy giờ là Aurelius – người đối đãi với Cơ Đốc giáo rất tàn nhẫn. 

Khi Valentine đang truyền giáo thì bị ai đó báo cáo rồi bị bắt. Sau khi bị bắt, ban đầu Hoàng đế La Mã Aurelius rất khâm phục kiến thức của Valentine. Vị giám mục thấy vậy mới khuyên Hoàng đế quy y Cơ Đốc giáo. Kết quả, Aurelius nổi giận rồi tống Valentine vào ‘tử lao’ (ngục giam người tử hình).

Nhưng trước bị tử hình, Thánh Valentine đã triển hiện một thần tích. Khi ấy, người quản ngục chăm sóc Thánh Valentine có một người con gái bị mù tên là Julia. Thánh Valentine đã triển hiện thần tích chữa lành đôi mắt của Julia, sau đó gia đình người quản ngục này đã quy y Cơ Đốc giáo.

Liên quan đến câu chuyện của Thánh Valentine, ông đã triển hiện thần tích chữa sáng mắt cho cô gái mù; sau đó ông tử vì đạo vào ngày 14/2, cho nên ngày này mới gọi là Valentine. Đây là nguyên gốc câu chuyện về Thánh Valentine, còn những điều khác như tình yêu đôi lứa… thì không liên quan, là do hậu thế thêm vào.

Nền tảng lập quốc của nước Mỹ: phải bảo vệ tự do tín ngưỡng

Từ câu chuyện này, Giáo sư Chương liên tưởng đến nước Mỹ hiện nay, chính là các tôn giáo khác nhau đều từng trải qua bức hại, rất nhiều người vì để duy hộ tôn giáo này đã phải tử vì đạo. Máu của những vị tín đồ này truyền cảm hứng cho rất nhiều người duy hộ tôn giáo, khiến cho tôn giáo truyền bá rộng hơn nữa. 

Nước Mỹ cũng như vậy, người Mỹ sở dĩ trân quý tự do tín ngưỡng bởi vì Hoa Kỳ là quốc gia kiến lập trên nền tảng Thanh giáo. Thời đó, các tín đồ Thanh giáo này bị Thiên Chúa giáo bức hại ở châu Âu, sau đó họ lên con thuyền Hoa Tháng Năm (Mayflower) để đến Mỹ vào năm 1620. 

Vì các tín đồ Thanh giáo vốn là người bị bức hại, họ không muốn làm người bức hại, sẽ không để việc bức hại tín ngưỡng xảy ra trên đất Mỹ. Do đó trước khi lên bờ, họ đã chế định một quy tắc, trong đó nói rằng: Họ muốn thực hiện dân chủ, quyền của chính phủ nên trao cho người dân, trị quốc dựa trên pháp luật. Đây là Công ước Mayflower đặt nền tảng cho dân chủ và pháp trị (1). Sau đó, vì người Anh áp bức họ nên đã xảy ra chiến tranh giành độc lập vào năm 1776…

Giáo sư Chương kể câu chuyện về lịch sử lập quốc của nước Mỹ là muốn nói rằng: bởi vì tín đồ Thanh giáo bị bức hại, cho nên họ càng trân quý tự do hơn gấp bội. Nói cách khác, người ta thiếu điều gì, họ sẽ trân quý điều đó; nhưng khi tự do giống như không khí lúc nào cũng có ở xung quanh (mặc định là có tự do), thì người ta lại bắt đầu không còn quý tự do nữa. Nước Mỹ – ngọn hải đăng của tự do thế giới liệu có rơi vào tình cảnh này?

Trước khi trả lời câu hỏi này, Giáo sư Chương chia sẻ một chút về ‘sáng nghiệp’ (創業:sáng lập cơ nghiệp) và ‘thủ thành’ (守城:bảo vệ thành quả), thì điều nào khó hơn.

‘Sáng nghiệp’ và ‘thủ thành’: Điều nào khó hơn?

Là người có am hiểu sâu sắc lịch sử, Giáo sư Chương chia sẻ một câu chuyện về Đường Thái Tông như sau. Trong ‘Tư trị thông giám’ có ghi lại một đoạn đối thoại giữa Đường Thái Tông và các đại thần, lúc đó vua Đường hỏi rằng: “Đế vương ‘sáng nghiệp’ và ‘thủ thành’, cái nào khó hơn”.

Phòng Huyền Linh đáp rằng: ‘Khi sáng nghiệp thì quần hùng đều khởi nghĩa, chúng ta thường sống trong cảnh chiến tranh nguy hiểm, thập tử nhất sinh, đương nhiên sáng nghiệp khó hơn”. Nguỵ Trưng không đồng ý nói rằng: ‘Tất cả đế vương được thiên hạ đều rất gian nan, nhưng cuối cùng mất thiên hạ chỉ vì an dật, hưởng thụ cuộc sống, cho nên khiến đế quốc sụp đổ. Do đó thủ thành càng khó hơn”.

2 đại thần có đáp án khác nhau, lúc này Đường Thái Tông mới nói rằng: ‘Bởi vì khi đó Phòng Huyền Linh cùng trẫm đoạt thiên hạ, vào sinh ra tử, do đó nói rằng sáng nghiệp rất khó. Còn Nguỵ Trưng lại cùng trẫm trị lý thiên hạ, thường hay sợ rằng cuộc sống ‘xa hoa dâm dật’ (dâm 淫: có nghĩa là dư thừa) sẽ khiến tai hoạ phát sinh. Đây là lý do vì sao Nguỵ Trưng cho rằng thủ thành khó hơn. Khó khăn khi sáng nghiệp đã qua rồi, hiện nay chúng ta phải thủ thành. Việc thủ thành, chúng ta thời thời khắc khắc ghi nhớ trong tim, không để vương triều diệt vong xảy ra”.

Tranh vẽ vua Đường Thái Tông Lý Thế Dân (ảnh Wikipedia).

Từ việc ‘sáng nghiệp’ và ‘thủ thành’ trong câu chuyện của Đường Thái Tông, Giáo sư Chương liên tưởng về nước Mỹ hiện nay. 

Trên thực tế, bảo vệ tự do là không dễ, cái giá mà những người Cha lập quốc phải trả khi đó là rất cao, Lincoln cũng phải trả một cái giá rất cao để bảo vệ chế độ liên bang, nước Mỹ thắng trận trong Thế chiến 2 cũng không hề dễ dàng v.v. Những người có kinh nghiệm chiến đấu, đã từng chảy máu cho tự do, họ hiểu sâu sắc rằng: Tự do là trân quý. Đây là gian nan của ‘sáng nghiệp’.

Khi những Quốc phụ và những người đã hy sinh trao tự do vào tay chúng ta, không có nhiều người hiểu rằng ‘thủ thành’ cũng rất gian nan. Nói cách khác, bản thân việc bảo vệ tự do cũng vô cùng khó khăn, cho nên đối với những người chưa từng mất đi tự do hoặc có được tự do quá dễ dàng, họ có thể không biết quý trọng điều này.

Giáo sư Chương nhìn nhận rằng, đến hôm nay nước Mỹ lại một lần nữa đấu tranh cho tự do. Tại sao như vậy? Bởi vì nó liên quan đến thịnh suy của một vương triều hoặc quốc gia. Là người nghiên cứu lịch sử, Giáo sư Chương chỉ ra rằng, một vương triều hoặc quốc gia đạt thịnh thế sẽ không quá 120-130 năm, nước Mỹ phồn vinh đã 128 năm, cho nên hiện nay đang bước vào một thời điểm rất quan trọng.

Thịnh thế không quá 130 năm, phồn vinh của nước Mỹ đã kéo dài 128 năm

Khi nhìn vào lịch sử Trung Quốc, Giáo sư Chương đã tính toán và đưa ra kết luận rằng: thịnh thế thông thường kéo dài không quá 120-130 năm.

Thịnh thế nhà Hán bắt đầu từ thời ‘Văn Cảnh chi trị’ (Hán Văn Đế, Hán Cảnh Đế), Hán Văn Đế đăng cơ năm 180 TCN, thịnh thế của nhà Hán kết thúc vào thời kỳ Hán Xuyên Đế, tức là Hán Xuyên Đế băng hà vào năm 48 TCN. Do đó 132 năm là thời kỳ thịnh thế của nhà Hán.

Đến nhà Đường, từ ‘Trinh Quán chi trị’ (Trinh Quán là niên hiệu của Đường Thái Tông) năm 626 khi Lý Thế Dân đăng cơ, đến lúc xảy ra ‘An Sử chi loạn’ vào năm 755, thì phần ở giữa đó dài 129 năm. 

Đến thời nhà Thanh là ‘Khang Ung Càn thịnh thế’, với Khang Hy 61 năm, Ung Chính 13 năm và Càn Long 60 năm, tổng cộng là 134 năm.

Từ đó chúng ta thấy rằng, thịnh thế ở Trung Quốc kéo dài khoảng 130 năm. 

Từ thông tin này, Giáo sư Chương tra cứu một tư liệu nói rằng: GDP Mỹ vượt qua Anh để đứng đầu thế giới là vào năm 1894. Tính đến thời điểm năm nay 2022 đã là 128 năm. Do đó Giáo sư Chương cảm nhận rằng, nước Mỹ đã đến một thời điểm rất then chốt chính là: nếu sống hoà bình và thịnh vượng mãi thành quen, thì dễ rơi vào ‘xa hoa dâm dật’ như đã nói ở phần ‘thủ thành’ (bảo vệ thành quả), thế thì xã hội sẽ càng ngày càng bại hoại.

Chúng ta có được tự do này quá dễ dàng nên đôi khi không trân quý, cho nên cũng có thể mất đi tự do.

Trong ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 1, Giáo sư Chương đã từng kể về nhiều nhân vật lịch sử mà bản thân họ biết rằng: khi một vương triều hoặc một người khi đạt đến đỉnh cao, thì sau đó sẽ đi về hướng suy bại.

Tôn Tử – người viết cuốn Binh pháp Tôn Tử và Ngũ Tử Tư công chiếm đô thành Dĩnh Đô và diệt được nước Sở, thì đây là một thắng lợi vô cùng huy hoàng nhưng cũng đầy rẫy gian nan. Để cho dễ hình dung sự việc: một nước Ngô nhỏ bé diệt được nước Sở cường đại, giống như Mexico diệt được nước Mỹ rộng lớn vậy.

Ngũ Tử Tư vì để báo thù cho cha và anh trai nên mới tiêu diệt nước Sở. Sau khi diệt Sở, Ngũ Tử Tư thấy rằng đại sự trong đời đã làm xong, đồng thời lập được đại công cho nên ông chuẩn bị hưởng thụ cuộc sống. 

Lúc này, Tôn Tử mới nói với ông rằng: “Tử Tư có biết đạo Trời không? Nóng qua lạnh đến. Xuân đi thu đến. Ngô vương cậy nước cường thịnh, tứ bề vô lo, ắt sinh kiêu ngạo. Công đã thành mà thân không thoái, ắt có hoạ về sau”. Tôn Tử khuyên Ngũ Tử Tư cùng đi với mình, Ngũ Tử Tư không đi, Tôn Tử tự mình ‘công thành thân thoái’. Kết quả 20 năm sau, Ngũ Tử Tư bị Ngô Vương Phù Sai ép phải tự sát, còn nước Ngô bị nước Việt tiêu diệt. 

Đây là ví dụ rất điển hình về ‘cực thịnh ắt suy’ (thịnh cực nhi suy – 盛極而衰), bao gồm những người ‘công thành thân thoái’ như Tôn Tử, Phạm Lãi, Trương Lương v.v. cũng đều hiểu được đạo lý thịnh suy này.

Giáo sư Chương kể câu chuyện trên là muốn nói rằng, trong tâm mắt của người Trung Quốc (hoặc người Á Đông) thì ‘sáng nghiệp’ và ‘thủ thành’ đều khó như nhau. Nhưng người Mỹ chưa trải qua kinh nghiệm tương tự vì lịch sử của nước Mỹ chỉ hơn 200 năm, không đủ rộng như lịch sử 5000 năm của Trung Quốc.

2 nguyên nhân khiến nước Mỹ suy bại

Tuy Giáo sư Chương chia sẻ ‘thịnh thế khoảng 130 năm và nước Mỹ đã phồn vinh 128’ không có ý là nước Mỹ nhất định sẽ suy bại, mà để đưa ra góc nhìn của mình về 2 nguyên nhân dẫn đến việc đó. 

Thứ nhất là không chú trọng giáo dục, dẫn đến không biết rõ công sức khi khai quốc và bảo vệ tự do của Quốc phụ trong quá khứ, dẫn đến một số người cho rằng tự do này là điều đương nhiên. Nếu cho là điều đương nhiên, họ sẽ không duy trì nó, như thế tự do dần dần sẽ mất đi. Đây là nguyên nhân thứ nhất: không chú trọng giáo dục.

Nguyên nhân thứ hai chính là do cuộc sống ở Mỹ quá thoải mái. Họ trước nay chưa từng nghĩ rằng những kẻ có dã tâm suy nghĩ như thế nào, chưa từng suy nghĩ nếu mất đi tự do sẽ ra sao. Do đó có lúc họ sẽ lấy tự do làm điều kiện để giao hoán (trao đổi).

Giáo sư Chương đưa ra ví dụ, nếu một người lười biếng hoặc muốn phóng túng dục vọng bản thân mình, muốn dùng ma túy v.v. thì chính phủ có thể nói: ‘Hãy giao lại tự do, tôi sẽ giúp bạn hưởng thụ’. Họ không muốn đi làm, chỉ cần giao lại tự do thì chính phủ sẽ trợ cấp thu nhập tối thiểu… rất nhiều người nguyện ý từ bỏ tự do.

Giáo sư Chương cho rằng, bởi vì những người này không biết rằng nếu mất tự do sẽ như thế nào, vậy thì nếu người Mỹ phát hiện tự do càng ngày càng bị ăn mòn, họ sẽ đứng lên để duy hộ tự do.

Một người bạn của Giáo sư Chương là Phương Vĩ đã từng phỏng vấn một vị giáo sư rất nổi tiếng ở Mỹ là Hason rằng: “Tương lai nước Mỹ nằm ở đâu?”. Giáo sư Hanson trả lời rằng: “Nằm ở những người ‘nhập cư mới'”. Mọi người người sẽ cảm thấy điều này thật kỳ lạ, tại sao những người ‘nhập cư mới’ lại là lực lượng chính duy trì bảo hộ những giá trị của nước Mỹ?

Giáo sư Hason trả lời rằng: “Những người nhập cư mới này đến từ các quốc gia tham ô hủ bại, không có tự do; vì vậy họ vô cùng lo sợ rằng nước Mỹ sẽ trở thành quốc gia như của họ. Do đó khi đến Hoa Kỳ, họ nhất định càng trân quý tự do và thịnh vượng ở nơi đây, sẽ trở thành những người giữ gìn giá trị truyền thống”.

Giáo sư Chương cho rằng câu trả lời của Hason rất có đạo lý, lấy ví dụ là cuộc bầu cử năm 2020, đã có rất nhiều người Hoa bầu cho Trump. Lý do là vì: nếu nước Mỹ trở thành một quốc gia giống như Trung Quốc, vậy thì cần gì chạy trốn sang đây, lúc đó chẳng khác nào ‘tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa’, ‘rời miệng hổ đến hang sói’. 

Có nhiều tộc duệ (dân tộc) thiểu số như người Tây Ban Nha cũng có tỷ lệ bầu cho Trump rất cao. Tất cả điều trên thấy rằng, những người nhập cư mới này biết rằng những giá trị của nước Mỹ là đáng quý biết chừng nào. Còn người Mỹ da trắng vì quá quen tự do như không khí nên đôi khi không biết quý trọng điều này, và họ có thể sẽ hối hận về điều này.

***

Nhân câu chuyện về Thánh Valentine, Giáo sư Chương thuận tiện mạn đàm một chút về tự do tín ngưỡng, ‘sáng nghiệp’ – ‘thủ thành’, một số câu chuyện lịch sử minh hoạ cho đạo lý ‘cực thịnh ắt suy’ và góc nhìn về một số sự việc đang xảy ra ở nước Mỹ vào thời điểm năm 2021. Qua một năm, chúng ta đọc lại vẫn thấy mới mẻ và còn tính thời sự, điều này cho thấy những kiến thức lịch sử tuy ‘xưa’ nhưng không ‘cũ’ đồng thời là một tham chiếu quan trọng để hướng đến tương lai.

Mọi người nhìn vào kết quả bầu cử cấp tiểu bang vào tháng 11/2021, có câu chuyện một tài xế xe tải chi 153 đô-la (gần 3,5 triệu đồng) mà đánh bại ứng viên thâm niên 20 năm của Đảng Dân chủ, do đó điều mà Giáo sư Chương nói rằng “nếu người Mỹ phát hiện tự do càng ngày càng bị ăn mòn, họ sẽ đứng lên để duy hộ tự do” giống như một căn cứ để dự đoán trước tình hình thế sự. 

Trong năm 2022 này sẽ diễn ra cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, khi người Mỹ tỉnh ngộ dùng phiếu bầu để quyết định số phận của mình, thế giới dần nhận ra bản chất của ĐCSTQ, thì tôi cho rằng thời gian sắp tới sẽ là ‘thời đại thức tỉnh’.

Mạn Vũ

Chú thích:

(1) Pháp trị: Trong Trung Hoa văn minh sử tập 38, Giáo sư Chương Thiên Lượng có đề cập đến 2 khái niệm rất quan trọng về pháp luật:

+ Rule of law: Pháp trị, tức mọi người tuân thủ và bình đẳng trước pháp luật.

+ Rule by law: Pháp chế, tức chính quyền độc tài chế định pháp luật để ‘chỉnh trị’ người dân.