Lý Duệ tin rằng “mô hình Liên Xô đã ly khai quy luật phổ quát”. “Con đường cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản mà Liên Xô theo đuổi là sai lầm về cơ bản”. “Một cuộc cách mạng kết cục bằng việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một hệ thống xã hội được đặc trưng bởi việc loại trừ các lực lượng sản xuất tiên tiến, vô luận là lấy danh nghĩa đường hoàng nào, đều không có tiền đồ”… 

Xin chào quý vị độc giả, chào mừng quý vị đến với “Trăm Năm Chân Tướng“!

Lý Duệ từng là thư ký của Mao Trạch Đông. Từ những năm 1940 đến những năm 1970, ông đã bị ĐCSTQ chỉnh đốn ba lần, lần sau  thảm hơn lần trước. Ông đã chịu đựng rất nhiều gian khổ, nhưng mệnh của ông rất lớn, ông đã sống đến 102 tuổi.

Hôm nay, chúng tôi căn cứ trên cuốn “Lý Duệ khẩu thuật vãng sự” và những ghi chép khác, cùng kể cho các bạn về những thăng trầm trong cuộc đời của ông, và những suy ngẫm của ông về ĐCSTQ trong những năm tháng cuối đời.

Lý Duệ sinh ra ở Bắc Kinh vào ngày 13/4/1917. Ông quê gốc là Bình Giang, Hồ Nam, tốt nghiệp Đại học Vũ Hán. Ông từng là Ủy viên Trung ương ĐCSTQ, Thứ trưởng thường vụ Bộ Tổ chức Trung ương, Thứ trưởng Bộ Thủy điện, kiêm bí thư của Mao Trạch Đông.

Lần chỉnh đốn thứ nhất – vận động cứu nguy

Từ tháng 4/1943 đến tháng 6/1944, trong “vận động truy cứu” sau cuộc “Chỉnh phong Diên An” của ĐCSTQ, Lý Duệ bị giam một năm hai tháng.

Thời điểm đó chính là thời kỳ gian khổ nhất của kháng chiến chống Nhật. Trùng Khánh, thủ đô lâm thời của Trung Hoa Dân Quốc, thường xuyên bị máy bay Nhật ném bom. Tuy nhiên, Diên An, đại bản doanh của ĐCSTQ, lại không một lần bị đánh bom, điều này đã tạo cho Mao Trạch Đông cơ hội chỉnh đốn thanh trừng các thế lực phản đối trong đảng, thiết lập quyền uy tuyệt đối của bản thân ông ta. Vì vậy, ông ta đã phát động vận động “Chỉnh phong Diên An”.

Mao Trạch Đông tróc nã Vương Thực Vị, một học giả tài năng của Đại học Bắc Kinh, người dám đứng lên phê bình sự đặc quyền hóa của các quan chức ĐCSTQ, sau đó, Mao lập tức chỉ đạo chĩa mũi nhọn chỉnh phong vào các đơn vị tập trung các phần tử trí thức, đâu đâu cũng “truy đặc vụ”. 

Lý Duệ trước kia đã trường kỳ làm công tác thanh niên và tuyên truyền trong các khu vực do Quốc Dân Đảng cai trị. Lý do ông bị bắt là, có hai ba cá nhân trong quá trình bị tra tấn bức cung, bị buộc phải thừa nhận bản thân là đặc vụ, sau đó bịa ra chuyện Lý Duệ là thượng cấp của họ. Khương Sinh, kẻ côn đồ chủ chốt truy bắt đặc vụ, hiệp trợ Mao chỉnh phong, từng nói, cha của Lý Duệ đã bị hồng quân giết hại, Lý Duệ đối với ĐCSTQ có mối hận giết cha. Nhưng sự thực khách quan là, cha của Lý Duệ mất vào năm 1922, lúc đó còn chưa có hồng quân. 

Lý Duệ hồi ức, kể: “Tại Tảo Viên, Văn phòng Bảo an và các nơi khác giam giữ hàng trăm ngàn người…. đương thời các cuộc bức cung rất nghiêm trọng, tôi từng trải qua năm ngày năm đêm không được phép ngủ, không được phép chớp mắt, vì làm như thế có thể mất kiểm soát bản thân mà buột miệng ra những lời nói thực. Tôi đương thời đã gắng gượng được, không bị loạn ngôn. Loại biện pháp này được kéo dài đến cả nửa tháng.” “Lúc bị thẩm tra, thông thường là phải đứng thẳng (thậm chí đến mức sưng cả chân) và ngồi trên ghế bản thấp (ghế ván không có tựa lưng) trong thời gian dài; có lúc bị còng chặt hai tay, thời gian dài ngắn bất kỳ. Trên tay tôi đầy sẹo, phải mất vài năm mới tiêu đi. Còn bị tát, đấm vào tai nữa.” 

Theo hồi ức của Lý Duệ, trong vận động cứu nguy, “80% phần tử trí thức ở Diên An lên đài ‘tự thú’, bị ‘truy cứu’ thành đặc vụ, kết quả là, trong những người này, không có ai là đặc vụ ‘thật’.”

Lần chỉnh đốn thứ hai – vì tán thành ý kiến ​​của Bành Đức Hoài

Tháng 1 năm 1958, Lý Duệ, lúc đó là thứ trưởng Bộ Thủy điện, được Mao Trạch Đông chỉ định làm thư ký kiêm nhiệm của ông ta.

Vào tháng 4 năm 1959, ĐCSTQ đã tổ chức Phiên họp toàn thể lần thứ bảy của Ủy ban Trung ương khóa VIII tại Thượng Hải. Lý Duệ hồi ức, khi Mao Trạch Đông đang nói về “vấn đề thứ mười lăm, tức khi cần giải phóng tư tưởng, liền điểm danh tôi rồi nói: Lý Duệ sợ ma quỷ, cần thay đổi. Muốn giải phóng tư tưởng, không được sợ ma quỷ……. nghĩ mãi không biết có một ngày nào đó sẽ chỉnh đốn đến cái đầu của ông ta, do đó, cẩn thận từng li từng tí…. Minh triều có cây ‘đình trượng’ chế ngự, chống đối hoàng đế liền bị đánh, đình trượng đã đánh chết hàng trăm hàng ngàn người, còn nhiều hơn số người bị chém đầu ở ngọ môn. Đó là vì, những người này đã dám liều mạng can gián vua.”

“Tiếp đến nói về vấn đề thứ mười sáu, tức là phê bình trong nội bộ đảng, Mao cũng mượn câu chuyện lịch sử, Hải Thụy can đảm dùng cái chết can gián vua, làm phát huy. Mao nói: Hiện tại hình thành một loại hình thế, không phê bình khuyết điểm của tôi. Các cậu dùng biện pháp ẩn dụ bóng gió cũng có thể mà. Tôi đã gửi cho Bành Đức Hoài xem cuốn “Minh sử Hải Thụy truyện”. Các cậu có thể thấy Hải Thụy ưu tú như thế nào, phong thư mà ông ta viết gửi hoàng đế lúc đó, rất là không khách khí, phi thường không khách khí, hoàng đế xem xong phong thư đó ném ngay xuống đất, cuối cùng mới lại nhặt lên, nghĩ đi nghĩ lại thấy cá nhân này vẫn là người tốt, nhưng là do bắt ông ta đến ban phòng.”

Đêm đó, Lý Duệ thỉnh giáo ý kiến ​​một thư ký khác của Mao là Điền Gia Anh, hỏi: Khi Mao nói về Hải Thụy, có phải là ông ấy muốn khích lệ mọi người học tập Hải Thụy, dám nói ra lời thật không? Điền Gia Anh nói về cách nhìn của Hồ Kiều Mộc, thư ký cũ của Mao. Hồ Kiều Mộc tin rằng Mao dẫn xuất Hải Thụy không phải là lần duy nhất, trên thực tế là yêu cầu không được xuất hiện nhân vật giống như Hải Thụy.

Ngày 2/7/1959, Mao Trạch Đông chủ trì Hội nghị Lư Sơn, nguyên bản là muốn sửa chữa sai lầm trong “Đại nhảy vọt” năm 1958. Vào ngày 14/7, Bành Đức Hoài đã viết một bức thư cho Mao, trong đó ông đã mạo hiểm nói sự thật về một số vấn đề tồn tại trong “Đại nhảy vọt“.

Vào ngày 16/7, Mao đưa bức thư của Bành Đức Hoài phát cho toàn thể các đại biểu để mọi người thảo luận. Trong cuộc thảo luận nhóm, Hoàng Khắc Thành, lúc đó là Tổng tham mưu trưởng Quân đội ĐCSTQ, Chu Tiểu Chu, bí thư tỉnh ủy Hồ Nam, còn có Lý Duệ, đều đồng ý với Bành Đức Hoài. Bài phát biểu dài của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trương Văn Thiên càng minh xác tán thành ý kiến của Bành.

Trên thực tế, khi Mao Trạch Đông đọc bức thư của Bành Đức Hoài đã tức giận lôi đình, những người này lại đứng về phía Bành, làm sao ông ta có thể chịu đựng nổi? Vì vậy, Mao, kẻ mà ba tháng trước đã hết sức khuyến khích các đảng viên học tập Hải Thụy dám nói ra sự thật, ngay lập tức lật mặt.

Từ ngày 2 đến ngày 16 /8/1959, tại Phiên họp toàn thể lần thứ tám của Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ lần thứ tám tổ chức tại Lộc Sơn, Bành Đức Hoài,  Hoàng Khắc Thành, Trương Văn Thiên, Chu Tiểu Chu và Lý Duệ đã bị phê bình, bốn người đầu bị đả thành “tập đoàn phản đảng”. Cả 5 người đều bị cách chức, tiếp theo đó, toàn quốc hơn 3,8 triệu người bị đả thành “phần tử chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh”, bị đưa ra phê đấu tơi bời.

Sau khi Lý Duệ trở về Bắc Kinh, ông tiếp tục bị Bộ Thủy điện phê đấu trong nửa năm. Bộ Thủy điện đã bịa đặt ra “tập đoàn phản đảng Lý Duệ”, liên quan đến hơn 200 người. Khi người phụ trách đảng ủy các cơ quan trực thuộc Trung ương ĐCSTQ tìm Lý Duệ nói chuyện, ông ta nói rằng đã quyết định khai trừ đảng tịch, hỏi ông có ý kiến gì không. Lý Duệ trả lời: “Tán thành khai trừ, không có ý kiến.”

Lý Duệ sau đó nói: “Lúc đó, tôi hoàn toàn tuyệt vọng, tôi cảm thấy cái đảng này đã không còn hy vọng gì nữa; Bản thân không có cửa nào báo quốc, bi ai cực độ.”

Sau khi bị khai trừ đảng tịch và công chức, vào tháng 5/1960, Lý Duệ bị đày đến Bắc Đại hoang dã, nơi ông sống cuộc đời cải tạo lao động như một “phần tử hữu phái”, bị bỏ đói quá mức và bắt làm việc quá sức suýt chút nữa đã giết chết ông. Sau đó, nhờ sự giúp đỡ của bạn hữu Điền Gia Anh, ông mới được cứu mạng, trở lại Bắc Kinh. Đoạn cuộc đời giống như địa ngục trần gian này kéo dài trong 570 ngày.

Lần chỉnh đốn thứ ba – tiết lộ Trần Bá Đạt

Năm 1963, Lý Duệ được cử đến Trạm thủy điện Ma Tử Đàm, An Huy, nói là để rèn luyện, làm giáo viên văn hóa, nhưng thực tế là để tiếp tục cải tạo lao động. Sau khi thư ký của Mao Trạch Đông, Điền Gia Anh tự sát trong Cách mạng Văn hóa, tổ chuyên án Bắc Kinh đã phái người đến Ma Tử Đàm để yêu cầu Lý Duệ khai ra mối quan hệ của ông với Hồ Kiều Mộc, Ngô Lãnh Tây và Điền Gia Anh.

Lý Duệ nói: Người nguy hiểm nhất quanh Mao Chủ tịch không phải là những người này, mà là Trần Bá Đạt. Khi đó, Trần Bá Đạt chính là đỏ phát tím. Lý Duệ tiết lộ một số tình huống của Trần Bá Đạt, và nhờ người chuyển lời tới Chu Ân Lai, bởi vì Chu Ân Lai là tổ trưởng tổ chuyên án vụ Điền Gia Anh.

Một lúc sau, một người khác từ Bắc Kinh quay lại, trả lại bức thư của ông cho Chu Ân Lai, nói rằng không thể chuyển được. Tháng 11/1967, hai chiếc xe jeep của quân đội đến Hợp Phì, nói rằng Lý Đức Sinh, chủ nhiệm Hội ủy Cách mạng tỉnh An Huy tìm ông nói chuyện, Lý Duệ mới ý thức rằng ông đã bị bắt.

Đúng như dự đoán, một chiếc máy bay đặc biệt đã chở ông đến Bắc Kinh, nơi ông trực tiếp bị giam trong nhà tù Tần Thành. Từ đó, ông đã bị giam trong một xà lim trong tám năm.

Trong phòng giam không có bất cứ vật gì ngoài một chiếc giường gỗ thấp, chăn đệm rất mỏng và không có gối.

Lý Duệ đã cố gắng tiết kiệm một ít giấy vệ sinh làm gối, nhưng nó đã bị tịch thu. Ông phải cởi giày và dùng chúng làm gối. Trại giam quy định, ban đêm khi ngủ phải đối diện với lỗ quan sát của trại giam trên cửa, không được trở mình, nằm ngửa cả đêm. Khi gặp phải những lính canh cố ý điêu nan, sẽ có những mánh khóe mới, chẳng hạn như bắt quàng tay ra ngoài chăn bông vào mùa đông.

Điều ác nhất là, quản lý nhà tù đã dung túng cho các cai ngục tiến hành các loại vũ nhục và tra tấn tù nhân. Những gì Lý Duệ đã trải qua là: ông thường vô duyên vô cớ bị phạt đứng nửa ngày; bị động tý là mắng mỏ lăng mạ, thậm chí còn bị gọi đến cửa sổ nhỏ nhổ nước bọt vào mặt; hoặc bắt ông thò tay ra ngoài cửa sổ và đánh. Một buổi sáng, Lý Duệ vươn tay ra ngoài cửa sổ lấy cháo, bị bảo vệ cố tình làm đổ cháo nóng lên tay, bị bỏng tới mức thành thương tích.

Bị giam chưa đến một năm, qua ô cửa sổ dài và hẹp trên tường, Lý Duệ nhìn thấy bên ngoài có cần cẩu đang làm việc, ông biết nhà tù vẫn đang xây, nên bắt đầu lên kế hoạch lâu dài. Để tồn tại, ông luyện khí công mỗi ngày trong phòng giam, đi bộ và luyện thư pháp bằng các ngón tay trên không. Vào tháng 5 năm 1975, ở tuổi 58, cuối cùng ông đã ra khỏi giám ngục để sống.

Sau “Thảm sát Thiên An Môn”, khi Lý Duệ đảm nhận việc biên soạn “Tài liệu về lịch sử tổ chức ĐCSTQ”, ông phát hiện ra rằng trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, nhà tù Tần Thành giam tổng cộng 502 người, khoảng một nửa trong số đó là quan chức cấp cục trở lên, có gần 30 người chết bên trong, hơn 20 người bị đánh đến thương tật, và gần 60 người phát điên.

Phần kết

Lý Duệ cả đời đã phải chịu đựng rất nhiều ma nạn. Sau Cách mạng Văn hóa, vào các năm 1979, 1989 và 1992, ông đã 3 lần đến thăm Hoa Kỳ, đồng thời thăm Pháp, Nhật Bản, Thụy Sĩ, Hà Lan, Úc và các nước khác. Ông là người giỏi quan sát và tư duy, trong những năm cuối đời, đối với ĐCSTQ, đối với Mao Trạch Đông, đối với phong trào Cộng sản quốc tế, ông đã đúc rút rất nhiều phản tỉnh và phê phán.

Lý Duệ tin rằng “mô hình Liên Xô đã ly khai quy luật phổ quát”. “Con đường cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản mà Liên Xô theo đuổi là sai lầm về cơ bản”. “Một cuộc cách mạng kết cục bằng việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một hệ thống xã hội được đặc trưng bởi việc loại trừ các lực lượng sản xuất tiên tiến, vô luận là lấy danh nghĩa đường hoàng nào, đều không có tiền đồ”. Xã hội nhân loại tiến bộ, cần “dựa trên khoa học và dân chủ”, “cần dựa vào pháp trị, chứ không phải dựa vào cái gì là ‘đấu tranh giai cấp’ ‘chuyên chính giai cấp vô sản’, điều đó là bất đắc nhân tâm”. Vào những năm cuối đời, Lý Duệ luôn nói đến dân chủ và chính quyền hợp hiến.

Lý Duệ có thói quen ghi chép nhật ký, trong đó có nhiều tư liệu lịch sử phi thường trân quý về ĐCSTQ. Nhưng thay vì giao nó cho ĐCSTQ, ông đã tặng “Nhật ký của Lý Duệ” cho Đại học Stanford ở Hoa Kỳ. Ý nguyện của ông trước khi mất là, sau khi mất “không tổ chức truy điệu, không vào Bát Bảo Sơn và không trùm cờ đảng”.

Mời quý vị xem video gốc sau đây:

Theo Epoch Times
Mộc Lan biên dịch