Nói đến ngày xưa thì xa xôi sâu thẳm không biết đâu là mốc là điểm là thời gian để có thể qui chiếu trở về. Nền văn hóa Thần truyền của Trung Hoa kéo dài năm nghìn năm. Nền văn hóa Việt Nam với nhiều những Thần ngôn Thần tích cũng có khoảng bốn nghìn năm lịch sử. Để thiển đàm đôi chút về câu hỏi này, chi bằng hãy cùng điểm lại những câu chuyện đã là kinh điển mà có lẽ ngày nay ai cũng từng biết đến, kiểu như những điển cố của thời Tam Quốc.

Đọc Tam Quốc, người ta thấy phía “tuyến đầu” toàn nam giới, tưởng như đi lạc vào thế giới của những trượng phu, với những kế sách, âm mưu, trận đánh, v.v. Nhưng phía hậu trường chính là những người phụ nữ mà vai trò của họ có tính quyết định, thậm chí đến mức thành bại sống còn của cả thế cục Tam Quốc. 

Những anh thư liệt nữ Ngô – Thục

Ngô Quốc Thái

Một trong những người phụ nữ như vậy là Ngô Quốc Thái. Bà có vai trò rất to lớn và thậm chí được xem là một lãnh đạo về tinh thần của cả Giang Đông, khi con bà là Tôn Quyền lên ngôi vị chủ xứ Đông Ngô ở tuổi 18 sau cái chết của người anh Tôn Sách.

Không chỉ là câu dạy con đại ý chuyện bên ngoài hỏi Chu Du, chuyện bên trong thì bàn với Trương Chiêu, mà là cả những năm tháng thay chồng mất sớm nuôi dạy con thơ, tất cả những công sức tình thương âm thầm của một người mẹ ấy mới góp phần làm nên một vị “Thiên cổ hoàng đế” như người đời sau ca tụng.

Hơn thế nữa bà có những quyết định mang tính sống còn với cục diện Tam Quốc. Thật vậy, sinh mệnh của Thục Tiên chủ Lưu Bị những ngày sang Giang Đông thập phần nguy hiểm cầu hôn Tôn phu nhân phần nào là được cứu nhờ Ngô Quốc Thái, nhờ uy tín của bà tại mảnh đất đầy rẫy anh tài phía Nam sông Trường Giang. Không chỉ là sinh mạng của một mình Lưu Huyền Đức, đó còn là tương lai của cả liên minh Thục Ngô và đại cục thiên hạ chia ba.

Ngoài Ngô Quốc Thái, còn có những người mẹ khác tuy không hoặc rất ít khi được nhắc đến, nhưng vai trò của họ là vô cùng quan trọng trong Tam Quốc Diễn Nghĩa. Đó là những bà mẹ, cũng giống như Ngô Quốc Thái, thay chồng dưỡng dục con côi trở thành những vị anh hùng thiên cổ lưu danh. Đó là những Lưu mẫu mẹ Thục chủ Lưu Bị, Từ mẫu mẹ Từ Nguyên Trực, và Khương mẫu mẹ Khương Bá Ước. 

Lưu mẫu

Lưu mẫu không những dạy con cần kiệm chịu khó khắc phục gia cảnh bần hàn mà còn tạo điều kiện cho con trai mình theo học những bậc tài danh lẫy lừng thời Hán mạt là Lư Thực và Trịnh Huyền. Không chỉ là bạn đồng môn với giới quyền quí sang trọng thời bấy giờ như Công Tôn Toản, Lưu Huyền Đức nhờ công dưỡng dục của bà mà từ người dệt chiếu trong lều cỏ trở thành một vị hoàng đế nổi danh bậc nhất Trung Quốc.

Sử sách không còn chép lại Thục Tiên chủ kính mẹ như thế nào, nhưng cứ xem cái cách những nhân vật khác như Từ Nguyên Trực bỏ vị minh quân mà cả đời ông tìm kiếm bất chấp hiểm nguy về sinh mạng chạy về đất Tào Ngụy để cứu mẹ, nơi hàng ngàn người mẹ khác đang khóc những đứa con của mình vừa mới bỏ mạng nơi sa trường dưới tài năng điều binh khiển tướng của ông; hoặc như cái dáng vẻ hấp tấp vội vã của Khương Bá Ước đang đêm rời thành Thiên Thủy khi nghe quân Thục đang vây khốn quê nhà nơi có mẹ già; thì một vị hoàng đế lấy Nhân Nghĩa làm cái gốc dựng nghiệp như Thục Tiên chủ ắt hẳn phải kính trọng mẹ mình lắm.

Hoặc một minh chứng khác là thông qua hình ảnh nhất mực cung kính của Quan Vân Trường trước hai vị Cam, My phu nhân cũng có thể thấy được sự tôn trọng mà Lưu Huyền Đức dành cho những người phụ nữ xung quanh mình lớn lao đến mức nào. Từng rượu ấm trảm Hoa Hùng, cùng huynh đệ đả bại Lữ Bố, một đao trảm Nhan Lương hạ Văn Sú, qua năm ải chém sáu tướng, coi nhẹ ân sủng của vị minh chủ bậc nhất lịch sử Trung Quốc là Tào Mạnh Đức, xem một rừng những anh tài của cả Giang Đông to lớn như một lũ chuột nhắt, coi cái chết nhẹ tựa hồng mao; ấy vậy mà La Quán Trung miêu tả sự kính trọng của Quan Công với hai vị Lưu phu nhân cứ như thể từ ngữ của thế gian con người là không đủ để diễn đạt cái Đức cao thượng kì vĩ của những người đàn ông thủa xưa thông qua việc trân trọng tôn quý những người phụ nữ xung quanh mình.

Cam phu nhân

Nhắc đến Cam phu nhân, dù cho bà không phải là nhân vật chính của Tam Quốc, nhưng vài dòng chữ của La tiên sinh cũng đủ cho thấy bà là một nữ anh hùng không kém phu quân và huynh đệ của ông. Bà gieo mình xuống giếng, chọn cho mình một nấm mộ thiên cổ vô danh để bảo toàn khí tiết, và hơn cả là góp phần cứu sống con trai A Đẩu vốn đã là một gánh nặng trước ngực của Thường Sơn Triệu Tử Long. Thử hỏi, nếu bà mà còn sống, thì cái đức ấy của bà liệu có thể không sánh ngang với những Ngô mẫu, Lưu mẫu, Từ mẫu, Khương mẫu đã nhắc đến ở trên hay không? Âu cũng là số Trời đã định, thiên hạ từ Hán chuyển sang Tấn thông qua một giai đoạn lịch sử ly kì là Tam Quốc, chứ giả như Cam phu nhân còn sống, thì vương nghiệp của Thục Hậu chủ Lưu Thiện đâu chỉ có bấy nhiêu. 

Tranh minh họa Cam phu nhân trong “Bách mĩ tân vịnh đồ truyện, vẽ theo tích truyện Lưu Bị so sánh bà đẹp như pho tượng bằng ngọc”. (Ảnh: Wiki)

Người xưa còn kể rằng Tiên chủ Lưu Bị say mê phẩm chất đạo đức và dung mạo của bà đến mức tạc tượng bà bằng ngọc và rất thích ngắm nó bên cạnh bà, mà mỗi lần như thế lại cảm thán rằng bà còn đẹp hơn khối ngọc quí kia. Mặc dù được chồng yêu thương như vậy nhưng bà lại khuyên chồng không nên làm thế. Bà cho rằng làm thế thì còn thời gian tâm huyết đâu mà hoàn thành đại nghiệp của một đấng anh hùng đã từng phá giặc Khăn Vàng, đánh đuổi tham quan Đốc Bưu, thảo phạt nghịch tặc Đổng Trác rồi phất áo bỏ đi, coi 18 lộ chư hầu như một lũ trẻ con. Bởi thế, sau khi ném A Đẩu xuống đất mà khóc ở Tương Dương Trường Bản, có ai có thể chắc rằng ấy là Lưu Huyền Đức khóc vì suýt mất đi một viên đại tướng, hay đó là những giọt nước mắt xuất ra tự đáy lòng, đau đớn khóc thương vị anh thư tri kỷ mà ông hằng yêu quý lẫn cảm phục. 

Những ví dụ phía Tào Ngụy

Ở trên, ta đã nhắc đến những người mẹ người vợ của các anh hùng Đông Ngô và Thục Hán, vậy còn phía Tào Ngụy thì sao? Ngụy Vũ Đế Tào Tháo nổi danh mạnh mẽ quyền biến liệu có trọng nam khinh nữ hay không? Hãy thử tưởng tượng ra khung cảnh cuộc đối thoại giữa hai nhân tài lớn nhất nền văn học Kiến An, đó là Tào Mạnh Đức và Sái phu nhân, húy Diễm, tự Chiêu Cơ…

Sái phu nhân

Phía trên, ở chính giữa là hai nhân vật, một là Sái phu nhân đóng vai gia chủ, hai là Tào Công đóng vai minh chủ; ở phía dưới khom lưng cúi đầu lắng nghe chuyện văn thơ toàn là những đấng những bậc anh tài đệ nhất Trung Nguyên thời bấy giờ, cả văn thần lẫn võ tướng. Cuộc chuyện làm say mê Tào Công, về một điển cố về cha bà, Sái Ung, vốn là bạn thân thừa tướng nhà Hán. Chỉ có bốn chữ “tuyệt diệu hảo từ”, mà phải mất một thời gian vị thi nhân lớn nhất nền văn học Kiến An nghĩ mới ra. 

Trước đó, Tào Thừa tướng đã hỏi cả Sái phu nhân lẫn chủ bạ Dương Tu ý nghĩa phía sau những dòng chữ của Sái Ung. Trong khi người mà hậu thế xưng tụng là nữ thi nhân duy nhất của nền văn học Kiến An tỏ vẻ không biết, thì người hay chữ con nhà danh gia họ Dương lại dường như không muốn che giấu kiến thức của mình. Là nữ nhi, nhưng xem ra công phu hàm dưỡng của anh thư Sái Chiêu Cơ hơn hẳn đấng trượng phu như Dương Đức Tổ.

Để chứng tỏ Tào Mạnh Đức không hề trọng nam khinh nữ thì không chỉ có dẫn chứng về chuyện ông đàm luận chuyện văn thơ với nữ nhân ngay trước mặt bá quan văn võ. Mà một nhân vật Tào thị trong giới nữ lưu được ông giao trọng trách làm hậu phương vững chắc cho ông yên dạ bôn ba bốn phương dẹp yên thiên hạ có thể là một ví dụ khác. 

Nói đến hậu phương của Tào Công ai cũng nghĩ tới Tuân Úc tự Văn Nhược. Nhưng kì thực người đóng vai trò hậu phương giúp ông vững tâm chinh chiến chính là con gái ông, Tào Hoàng hậu. 

Tào Hoàng Hậu. (Ảnh sưu tầm)

Tào Hoàng hậu

Quả vậy, trước kia, cha con Đổng hoàng hậu là mối lo rất lớn của Tào Công. Bên cạnh hai con người này, Hán Hiến Đế nếu không viết huyết thư truyền ra ngoài kể tội “Tào tặc” thì cũng ngày đêm than khóc hổ thẹn so mình với những Hán Cao Tổ hay Hán Quang Vũ Đế. Trong khi đó, Tào Công bôn ba khắp nơi, chịu không biết bao nhiêu nguy hiểm đến sinh mạng, cắt tóc cắt râu vứt áo thoát thân không biết bao nhiêu lần, chịu cảnh sinh ly tử biệt với ái tướng Điển Vi, con yêu Tào Ngang một cách đầy đau khổ. Không thể ẩn nhẫn mãi được, không chỉ thanh lý cha con họ Đổng, Tào Công còn sắp đặt cho con mình vào cùng rồi lên ngôi Hoàng hậu nhà Hán. Việc ngôi vị mẫu nghi thiên hạ Hán triều do con gái ông đảm nhận đã dẹp yên mãi mãi những mối lo kiểu này. 

Hiếu Mục Tào Hoàng hậu không chỉ là một người con có hiếu, một người vợ hiền đức, mà bà còn để lại tấm gương sáng ngời về một bậc mẫu nghi thiên hạ. Khi Hiến Đế bị ép nhường ngôi, bà mắng thẳng anh trai Tào Phi của mình rằng ngươi công đức sao sánh được cha, mà dám làm như thế thì Hoàng thiên ắt không phù hộ. 

Quả nhiên, dòng họ Tào gặp phải nhân quả báo ứng dưới tay họ Tư Mã, còn bà sau khi khảng khái mắng Ngụy Văn Đế, lui về làm Sơn Dương phu nhân, khuyên chồng tu Đạo đem tài năng y đức cứu khổ cho chúng sinh, ngao du sơn thủy, phiêu diêu thoát tục, tạo nên huyền thoại về cặp uyên ương Long Phụng Y Gia nổi tiếng Trung Quốc. 

Hình tượng nữ giới trong thi ca

Không chỉ trong giai thoại về bốn chữ “tuyệt diệu hảo từ” được nhắc ở trên, sự tôn trọng nữ giới của những bậc nam nhi đại trượng phu thời Tam Quốc còn đi vào thơ ca. Quả vậy, tương truyền Gia Cát Khổng Minh thuật lại với Chu Đô đốc Giang Đông rằng Tào Tháo lệnh cho con là Thào Thực, một nhân tài kiệt xuất khác của nền văn học Kiến An, làm thơ mừng công trong đó có hai câu “…Lãm nhị Kiều ư đông nam hề/ Lạc triêu tịch chi dữ cộng...”

Không biết thực hư chuyện này ra sao nhưng có vẻ điều này đã trở thành điển tích cho đời sau. Thực vậy, sau này nhà thơ lớn Đỗ Mục thời Đường cảm thán “Đông phong bất dữ Chu lang tiện/ Đồng Tước xuân thâm toả nhị Kiều“, ý rằng nếu Gió Đông ấy mà không giúp nổi Chu Lang, thì Nhị Kiều kia đã bị khóa trong Đài Đồng Tước của Tào Công. 

Trong những ý thơ thanh khiết của thi hào Đỗ Mục, hai chữ nhị Kiều kia không thể dung tục được, nhất là trong những liên tưởng tiêu sái vượt thời gian của  « Xích Bích hoài cổ ». 

Quả vậy, người xưa ví cái Đức của phụ nữ như những mạch ngầm của Đất mẹ, ẩn nhẫn âm thầm nuôi dưỡng vạn vật. Nhị Kiều kia chính là đại diện cho mảnh đất Giang Đông. Tại sao lại có thể nói như thế ? Là vì ở đỉnh cao sự nghiệp, đứng trước cảnh hùng vĩ của mây trời sóng nước Trường Giang và sự uy nghiêm của hơn 80 vạn quân, uống rượu múa giáo ngâm thơ cùng với vầng trăng đang soi tỏ trên đầu rằng ta sẽ đưa hai nàng Kiều về Đài Đồng Tước – mà nhị Kiều kia, một là phu nhân của tiền Ngô chủ, một là đương kim Đô Đốc phu nhân của Giang Nam  – thì chẳng phải là sự hóa thân đầy thi vị cho cái hùng tâm bình định Giang Đông của người anh hùng Tào Mạnh Đức hay sao? Nhị Kiều kia, chẳng phải chính là toàn bộ Giang Đông hay sao?

Thay cho lời kết

Hình bóng hai nàng Kiều in đâu đó bên ánh trăng bàng bạc trên sông nước Trường Giang bao la trong những câu thơ bất hủ của Đỗ Mục, hay là cái dáng khom khom cúi mình của Mỹ Nhiệm Công Quan Vân Trường đứng bên vệ đường xin hai chị cho thu nạp Châu Xương, tất cả như để chứng minh cho sự thực rằng: khi cái đức của người đàn ông mà cao thượng thì địa vị của người phụ nữ cũng thật thanh cao tôn quý.

Đạo đức người xưa cao thượng là thế, không thể nào có chuyện trọng nam khinh nữ. Chỉ khi đạo đức suy đồi, nam nhi mất đi khí tiết, không còn tâm pháp để dựa vào đó mà hàm dưỡng, thì mới có những cảnh đối xử với phụ nữ một cách hèn kém. Trọng nam khinh nữ theo cái lý đó, chỉ là một tấm áo choàng mà người của thời hiện đại, mang theo tư tưởng tân tiến đến mức không thể lý giải nổi nội hàm đạo đức của những điển tích lịch sử, khoác một cách tùy tiện lên quá khứ xa xưa. 

Với quan niệm của thời hiện đại, người ta khó có thể hiểu rằng sự âm thầm ẩn nhẫn của phụ nữ cổ xưa, chẳng qua là do, xưa kia, con người thuận theo thiên tính, ai ai cũng soi mình vào đạo Trời mà ước thúc bản thân, hoàn thành sứ mệnh, coi trọng cân bằng âm dương. Người nam làm đúng thiên chức người nam, gánh vác những việc khó nhọc hiểm nguy, cúc cung tận tụy duy trì chính Đạo, noi theo gương Mặt Trời lan tỏa cho tới những tia nắng cuối cùng. Người nữ làm đúng thiên chức người nữ, đức độ thiện lương, âm thầm nuôi dưỡng, học theo cái Đức của Đất ngày cũng như đêm Đông cũng như Hạ không ngừng không nghỉ.

Ngày nay, nữ giới như bị cuốn theo những dòng tư tưởng trào lưu hiện đại, không chỉ phẩm chất tinh thần mà cả những đường nét bề ngoài đều như theo đó mà phô hết ra bên ngoài. Thế giới hiện đại thừa mứa vật chất kim tiền, ấy thế mà những guồng quay ngày một nhanh của nó vẫn cứ muốn đẩy những người phụ nữ vừa làm mẹ vừa làm vợ lại vừa vắt kiệt trí lực tâm huyết chạy theo những danh những lợi, vồn đã đủ đầy, nhưng lạ kì thay, cả nam lẫn nữ, người ta luôn luôn cảm thấy thiếu.

Đâu đâu cũng như thế, từ Nam chí Bắc từ Đông tới Tây. Ấy vậy mà như thể sự hiện đại hóa đó vẫn là chưa đủ, người ta còn muốn giải phóng phụ nữ thêm nữa, để cho những cái hay cái đẹp ấy còn phải phô ra thêm nữa. 

Nhưng thử hỏi những người phụ nữ hiện đại ấy có hạnh phúc hay không trong vòng xoay của cuộc sống hiện đại? Biết bao nhiêu mảnh tình tan vỡ làm con tim trở nên chai sạn, biết bao cảnh chia ly xé bỏ hôn ước, cảnh nuôi con một mình… 

Thay vì giải quyết tận gốc vấn đề, chấn hưng đạo đức, tìm lại thiên tính, nam cho ra nam, nữ cho ra nữ; thì lại là những tư tưởng trào lưu mới, khiến nền tảng gia đình truyền thống bị lung lay thêm nữa…

Lịch sử cho thấy khi đạo đức thăng hoa, âm dương cân bằng, thì thái bình thịnh trị. Trái lại, mỗi khi âm thịnh dương suy, đạo đức băng hoại, thì thiên tai nhân họa nối lên khắp nơi. Khi đó, là nam hay là nữ đều thống khổ như nhau, không hơn không kém… Cháy rừng, lũ lụt, động đất, bão cát, mưa nắng thất thường, dịch bệnh, chiến tranh, và phía trước là nguy cơ khủng hoảng lương thực khí đốt và các loại nhu yêu phẩm khác. Thời nay chẳng phải đúng là đang như thế hay sao?