Có một số người, nếu chỉ nhìn vẻ bề ngoài, luôn có thể tạo được ấn tượng hiền từ như kỳ lân, xinh đẹp như phượng hoàng với người khác, nhưng nội tâm của người đó lại ẩn giấu mục đích giống như ma quỷ.

Người dân Trung Quốc thời xưa luôn tin rằng “ngẩng đầu ba thước có Thần linh”, và cũng hiểu rõ chân lý thiện ác báo ứng. Tuy nhiên con người thời nay bị lời nói dối trăm năm là thuyết tiến hóa mê hoặc, còn bị học thuyết vô thần tẩy não… đối với tổ tiên của mình và lịch sử, văn hóa đều xem không ra gì, không ngừng tìm kiếm lý do lừa dối bản thân để có thể phóng túng mọi loại ham muốn, và không phải chịu trách nhiệm cho mọi hành vi việc làm của mình. Thật ra trong đời sống ngày nay, kinh nghiệm cận tử gần như là một loại kiến thức của con người rồi, rất nhiều người cũng có thể nhìn thấy cái gì đó trong một khoảnh khắc chớp nhoáng, nhưng cũng có người luôn tự lừa dối mình bằng “sự ảo tưởng”, không chịu đi tìm hiểu và nghiên cứu.

Ngày xưa những người già hay nói rằng, đến khi cái gì cũng nhìn thấy thì đã muộn rồi. Ý nghĩa trong câu nói này là gì? Là cuộc đời này không chỉ có những thứ mà mắt thường chúng ta nhìn thấy, mà còn có rất nhiều sự vật sự việc vô hình khác luôn tồn tại, như là có Thần linh, có ma quỷ, có thiên đường, có địa ngục… thật ra còn có các loại hình thái sự sống và không gian sinh tồn phức tạp hơn nữa, phải nói là cực kỳ phức tạp.

Tuy nhiên, sự sống của một sinh mệnh nên đi đến không gian nào để sinh tồn – bao gồm việc đi đến không gian của bề mặt Trái đất nơi mà chúng ta đang sinh sống có thể nhìn thấy được bằng mắt thường – đó đều là do Thần linh quyết định thông qua việc xem xét cảnh giới khác nhau của mọi loại sinh mệnh. Con người có biểu hiện như thế nào ở trước mặt người khác đều không sao cả, nhưng ở trước mặt Thần linh, nội tâm của một người là như thế nào, đang suy nghĩ về chuyện gì, Thần Phật đều nhìn thấy hết.

Có người cho rằng người xưa rất ngốc, cái gì cũng không biết, thật ra đó là sự chân chất, không có nhiều tâm tư xấu xa. Chính vì như vậy, khi họ gặp phải chuyện gì đó, giả sử không hiểu, họ sẽ ghi chép lại một cách cẩn thận, vì vậy càng có thể mang đến nhiều sự gợi ý cho con người. Dưới đây là câu chuyện của một thư sinh vô tình biết được bí mật của Thần giới.

“Gương nghiệp” và “gương tâm”

Gương nghiệp là một tấm gương ở dưới địa phủ theo truyền thống tín ngưỡng của Phật giáo và Đạo giáo, gương này có thể soi được những nghiệp tội mà người chết đã tạo ra trong suốt quá trình sống trên dương gian, nên gọi là gương nghiệp.

Trong “Duyệt Vi thảo đường bút ký”, Kỷ Hiểu Lam có kể lại một câu chuyện liên quan đến “gương nghiệp” và “gương tâm” như sau:

Ngày xưa có một thư sinh nọ, ban đêm đi ngang qua miếu Nhạc Đế, nhìn thấy hai cánh cổng lớn sơn màu đỏ của ngôi miếu đóng chặt, nhưng lại thấy có một người từ trong miếu bước ra. Anh ta biết ngay là mình đã gặp được Thần linh rồi, vội vàng bước đến khom người cúi lạy, gọi người kia là “Thượng thánh”. Vị Thần linh đó đưa tay ra đỡ anh ta đứng thẳng người và nói: “Ta không phải là Thần linh cao quý, chỉ là Ti kính sứ của ‘Hữu kính đài’ mà thôi, vì đi đưa sổ sách mà tình cờ đi đến chỗ này” (Ti kính sứ: người trông coi, cai quản gương chiếu dưới địa ngục).

Chàng thư sinh hỏi: “Ngài phụ trách gương gì vậy? Lẽ nào là gương nghiệp mà mọi người thường hay nói đến sao?”

Ti kính sứ nói: “Gần giống gương nghiệp, nhưng lại là một loại gương khác, gọi là ‘gương tâm’. Cái mà gương nghiệp soi chiếu chỉ là những việc thiện và việc ác mà con người đã làm trong một đời mà thôi; còn về sự biến hóa vi diệu của cảm xúc vi tế, tình cảm thật giả bên trong nội tâm con người là muôn vàn rối ren, lên xuống liên tục. Trong đó ẩn chứa rất nhiều ý đồ thâm sâu bí ẩn, không thể suy đoán được, rất khó để nhìn thấy được những điều đó. Cho nên có một số người, nếu chỉ nhìn vẻ bề ngoài, luôn có thể tạo được ấn tượng hiền từ như kỳ lân, xinh đẹp như phượng hoàng với người khác, nhưng nội tâm của người đó lại ẩn giấu mục đích giống như ma quỷ. Những tội ác được ẩn giấu sâu bên trong nội tâm mà không được biểu hiện ra ngoài đó, thông thường gương nghiệp sẽ không thể nào soi chiếu thấu được”.

“Từ sau thời nhà Tống, đạo đức xã hội càng xuống dốc, những kỹ xảo ngụy trang che đậy, ẩn giấu lừa gạt… lại càng được sử dụng một cách hoàn hảo không kẽ hở, càng tinh vi hơn, có một số người cả đời làm việc xấu nhưng đều có thể che đậy hết tất cả, cuối cùng không bị bại lộ. Vì vậy chư Thần trên trời hội nghị, quyết định dời ‘gương nghiệp’ đến Tả đài, chuyên để soi những kẻ tiểu nhân thực sự, còn ở Hữu đài sẽ thiết lập thêm ‘gương tâm’, chuyên dùng để soi những kẻ ngụy quân tử, dưới sự phản chiếu của ánh sáng gương tròn ở hai bên đài, thế giới nội tâm của con người sẽ được hiện bày ra một cách tường tận rõ ràng: Có người chấp vào tà kiến, có người thiên về quái dị, có người lòng dạ đen tối, có người uốn cong như móc câu, có người lòng dạ bẩn thỉu như rác rưởi hố phân, có người ô nhiễm như bùn đất, có những nội tâm bao trùm bởi sự nham hiểm, có những tâm cơ nhiều như các kinh mạch rối ren trong cơ thể con người, có nội tâm sần sùi như gai góc, có tâm sắc nhọn như đao kiếm cắm ở trước ngực, có tâm ác độc như rắn rết, có tâm tàn nhẫn như thú dữ, có những ý đồ, dục vọng được mặc ‘quan phục’ đẹp đẽ trên người, có những tâm tham lợi ích sặc mùi ô uế của bạc tiền, thậm chí có những tâm thái xấu xí đang mơ mơ màng màng nghĩ về hình ảnh tà dâm v.v… Nhưng khi cậu quay đầu quan sát vẻ bề ngoài của họ, lại thấy người nào người nấy tướng mạo đường hoàng, đạo mạo nghiêm trang. Mà trong số những người đó, người có tâm địa tròn trịa sáng bóng như minh châu, trong suốt như pha lê, trong hàng trăm hàng ngàn người cũng khó chọn ra được một hai người vậy”.

Ảnh minh họa: Một phần tranh Phật Cao Ly thế kỷ 14.

Dừng lại một hồi lâu, Ti kính sứ lại nói tiếp:

“Những tình huống này, ta phụ trách đứng ở bên cạnh gương tâm, quan sát kỹ lưỡng và ghi chép lại các loại hiện tượng nội tâm của những người đó, cứ cách ba tháng là đến nơi này bẩm báo với Đông Ngục Thần Quân một lần, lấy điều này làm căn cứ để quyết định tội phước của họ. Phần lớn đối với những người có danh vọng địa vị, sự trừng phạt cũng nghiêm khắc hơn, còn đối với những người tâm cơ toan tính càng khéo léo, thì hình phạt lại càng nghiêm trọng. Cuốn sách “Xuân Thu” có ghi chép lịch sử hai trăm bốn mươi năm của nước Lỗ, trong đó có không ít nhân vật bị căm ghét, ông Trời cho sét đánh vào miếu thờ của Bá Di, đặc biệt thể hiện hình phạt đối với Triển Cầm (Liễu Hạ Huệ), nguyên nhân là vì ông ta che giấu tội ác của mình. Cậu phải ghi nhớ: Con người nên thành thật và đôn hậu. Bất cứ tà ác nào cũng không thể che đậy được, mà chỉ mang đến sự trừng phạt lớn hơn!”

Chàng thư sinh nghe xong những lời này của Hữu Đài ti kính sứ, liền cung kính cúi lạy, nói rằng: “Xin ghi nhớ lời dạy, cám ơn ngài!”

Khước kim mộ dạ

Trên thế giới, tuy rằng có rất nhiều người mang lòng dạ xấu xa, vô cùng bẩn thỉu, nhưng cũng không thiếu những bậc Thánh hiền, họ là những người “tâm địa tròn trịa sáng bóng như minh châu, trong suốt như pha lê”, họ luôn kiểm soát và khắc chế dục vọng của bản thân một cách cẩn thận, kể cả những lúc chỉ có một mình, bởi vì họ biết là “lòng người sinh một niệm, trời đất đều biết hết”.

Vào thời Đông Hán, có một câu chuyện tên “Khước kim mộ dạ” nói về “Quan Tây – Khổng Tử Dương Bá Khởi”, được lưu truyền rộng rãi đến ngày nay.

Dương Chấn, tự Bá Khởi, người Hoa Âm, Hoằng Nông của nhà Đông Hán (nay thuộc Hoa Âm, Vị Nam). Ông am hiểu kinh truyện – kinh truyện là những trước tác nổi tiếng của các Thánh hiền, học thức uyên bác, vì vậy người dân thời bấy giờ đều gọi ông là “Quan Tây – Khổng Tử Dương Bá Khởi”.

Cả đời Dương Chấn đều xem nhẹ danh lợi, ông từng đảm nhận các chức vụ như Thứ sử Kinh Châu, Thái thú Đông Lai, Thái thú Trác Quận, Tư đồ, Thái úy… Khi Dương Chấn đảm nhận chức vụ Thái thú Kinh Châu, ông từng tiến cử Vương Mật với tài hoa xuất chúng lên làm Huyện lệnh Xương Ấp.

Vài năm sau, khi Dương Chấn được điều đi làm thái thú Đông Lai, đi ngang qua huyện Xương Ấp. Huyện lệnh Vương Mật biết tin ân sư của mình đi đến nơi này, vội vàng đi ra nghênh đón, hai người vui vẻ ôn lại chuyện cũ với nhau, cả hai đều rất xúc động.

Vào đêm chia tay, khi trời đã khuya, Vương Mật lại đến nhà trọ của Dương Chấn để xin gặp. Nhân lúc trong phòng không có ai, Vương Mật từ trong túi áo lấy ra mười cân vàng làm quà từ biệt, để báo đáp ơn nghĩa của Dương Chấn. Nhìn thấy tình cảnh này, Dương Chấn biết được dụng ý đêm khuya đến thăm của Vương Mật.

Ảnh minh họa: “Từ hiển khanh hoạn tích đồ” được vẽ bởi Dư Nhâm, Ngô Việt (nhà Minh), lưu giữ ở Bảo tàng Cố cung.

Dương Chấn dùng hai tay đẩy cái túi đựng đầy vàng về phía Vương Mật, nói với ông ta một cách chân thành thẳng thắn: “Ta vì hiểu rõ tài học và nhân phẩm của con, cho nên mới tiến cử con với triều đình, hy vọng con có thể công chính liêm minh, tạo phúc cho bá tánh một phương. Ta làm những điều này, không phải vì ham muốn sự báo đáp của cá nhân, lẽ nào con không hiểu rõ con người của ta hay sao?”.

Vương Mật nghe xong, đành mỉm cười một cách gượng gạo. Nhưng dưới ánh đèn cầy chói lọi, Vương Mật lại nhìn xung quanh căn phòng một lần nữa, tin chắc không có người nào khác ở quanh đây. Thế là, Vương Mật khiên cưỡng nói rằng: “Đúng vậy, đúng vậy…” rồi lại bước đến gần, nói nhỏ với Dương Chấn: “Ân sư, đại ân đại đức của thầy, tôi ghi nhớ trong lòng. Đây thật sự là một chút tâm ý của con, vẫn mong ân sư nhận cho! Hơn nữa, trời đã khuya như vậy, không ai nhìn thấy, không ai biết đâu”.

Chỉ vừa mới dứt lời, Dương Chấn liền thay đổi sắc mặt, nói một cách nghiêm nghị: “Trời biết, Thần biết, ta biết, con biết, sao có thể nói là không ai biết chứ?” Nói xong, Vương Chân lớn tiếng hô gọi người hầu đến tiễn khách. Vương Mật thấy vậy, vô cùng xấu hổ mang theo vàng rời khỏi. Từ đó về sau, câu chuyện “Khước kim mộ dạ”  được mọi người lưu truyền thành một giai thoại, còn Dương Chấn thì lại có thêm một biệt hiệu là “Tứ tri tiên sinh” (Khước kim mộ dạ nghĩa là khước từ vàng trong đêm. Tứ tri trong ‘tứ tri tiên sinh’ là muốn ám chỉ đến bốn cái biết: Trời biết, Thần biết, ta biết, ngươi biết).

Quân tử trong ngoài đều phải ‘thận độc

‘Thận độc’ là một trong những phương pháp tu thân được Nho giáo đề xướng. Thận tức là thận trọng, độc là cô độc một mình. ‘Thận độc’ nghĩa là khi một mình ở nơi cô độc không có ai, vẫn phải tuân thủ đạo đức lễ nghĩa một cách thận trọng.

Trong “Quốc Ngữ” nói: “Thận, là hành vi đạo đức”. “Thận” (thận trọng) là “thật lòng”, chỉ khi thật lòng thì mới có thể dễ dàng thực hiện được làm người thận trọng, hành sự cẩn trọng.

Trong phần “Trung dung” của Lễ Ký có viết: “Mạc kiến hô ẩn, mạc hiển hô vi, cố quân tử thận kỳ độc dã”. Câu này nghĩa là: Khi ẩn giấu vẫn sẽ bị phát hiện, chỗ vi tế cũng sẽ bị soi thấy, vì vậy quân tử ở một mình cũng phải thận trọng. Quân tử thận độc là biểu hiện của một loại cảnh giới của đời người, trung thực thẳng thắn, trong ngoài như một.

Nếu như trong tư tưởng của một người nảy sinh ý nghĩ nào đó, tuy rằng không nói ra, nhưng những tâm tư ẩn giấu đó lại càng thể hiện ra cảnh giới của một người một cách chân thật nhất. Những chi tiết vi tế trong hành vi hàng ngày lại càng có thể biểu lộ bản chất thật ở cấp độ vi mô.

Vì vậy, khi quân tử ở một mình, ở nơi mà người khác không thể nhìn thấy, không thể nghe thấy, thì lại càng phải tự khắc chế và kiểm điểm bản thân. “Vạn sự khuyên người đừng ám muội, ngẩng đầu ba thước có Thần linh”. Mọi hành động việc làm và suy nghĩ của mỗi người trong thế gian này, từng giây từng phút đều được Thần linh quan sát.

Nhà triết học Democritos theo trường phái tự nhiên của Hy Lạp cổ đại cũng có một câu danh ngôn kinh điển: “Hãy cẩn thận, cho dù khi bạn ở một mình, cũng đừng nên nói lời xấu ác hoặc làm chuyện xấu ác, mà phải học cách biết xấu hổ ở trước mặt mình còn hơn là ở trước mặt người khác”.

Theo Sound Of Hope
Châu Yến biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

videoinfo__video3.dkn.tv||f716ae8e0__

Ad will display in 09 seconds