Vu-lan (chữ Hán: 盂蘭) là từ viết tắt của Vu-lan-bồn (盂蘭盆), theo cách phiên âm Phạn-Hán có nghĩa là “treo (ngược) lên”. Các đại sư Trung Quốc cũng dùng từ “đảo huyền” (倒懸), “treo ngược lên” để gọi ngày Vu-lan. Từ “đảo huyền” được lấy ý từ câu: “Dân chi duyệt chi do giải đảo huyền dã” trong sách Mạnh Tử, chỉ sự giải thoát cho những kẻ khổ sở tột cùng ở cảnh giới địa ngục. 

Sự tích lễ Vu Lan được chép trong sách “Mục Kiền Liên cứu mẫu kinh diễn âm”, theo đó thì Mục Liên không phải là tên thật mà là tên hiệu. Tên thật Mục Kiền Liên là La Bộc. La Bộc là con ông Phổ Tướng và bà Thanh Đề. Vì gia đình túng thiếu, La Bộc phi đi buôn bán ở tỉnh Kiên Liên. ít lâu sau, giàu có, La Bộc cho người đem tiền về biếu mẹ. Bà mẹ ăn xài hết nhẵn rồi lại còn giết con chó làm nhân bánh biếu sư. Đến lúc La Bộc về thì bà mẹ lái chối và nói rằng bao nhiêu tiền con gửi về cho đã đem cúng cả vào đền chùa miếu vũ rồi. 

Chẳng bao lâu, bà mẹ qua đời. Chịu tang mẹ ba năm, La Bộc đi qua nước Ki Đô là nơi Phật ở, xin phép ở lại tu luyện theo hầu. Phật thương tình, ứng thuận, sai thầy Kha Na cắt tóc ông và đặt tên là Đại Mục Kiền Liên và cho vào tu ở chùa Lã Bí trong rừng Quýt Sơn. Cái tên Mục Kiền Liên phát sinh từ đó. Muốn đến rừng Quýt Sơn, phải qua chùa Thiên Giai là nơi có những âm hồn ở lẩn quất nghe kinh. Mục Liên chỉ nhận thấy có cha là ôm mặt khóc, Phật hiện lên bảo cho biết là Thanh Đề vì khi sống điêu ngoa gian ác nên bị đày xuống ngục A Tỳ rồi. 

Thông qua thiên nhãn, ông nhìn thấy người mẹ đã khuất của mình bị đọa vào con đường ngạ quỷ. Vì bà đã tạo rất nhiều tội nghiệp lúc sinh thời, nên khi xuống địa ngục bà phải chịu hành hạ vô cùng thống khổ, không được ăn cũng không được uống, tình cảnh thật vô cùng bi thương.

Mục Kiền Liên là một người con có hiếu, nên khi nhìn thấy mẫu thân bị hành hạ ông đã dùng thần thông hóa ra một bát cơm bưng đến trước mặt mẹ mình. Mẹ của Mục Kiền Liên nhìn thấy đồ ăn, vội vàng dùng tay che bát cơm lại không cho các cô hồn khác biết. Nhưng thức ăn vừa đưa lên miệng liền hóa thành lửa đỏ, dù có làm thế nào cũng không sao ăn được. Mục Kiền Liên chứng kiến mà trong lòng vô cùng đau xót. Tuy bản thân ông có pháp lực thần thông, nhưng rốt cuộc vẫn không thể cứu nổi mẹ mình.

Mục Liên lặn lội tìm cho tới ngục A Tù gặp mẹ. Nơi đây bà mẹ chịu trăm ngàn thứ cực hình, không sao chịu nổi. Thấy con, bà mẹ khóc lóc khẩn cầu con tìm cách cho bà ra khỏi ngục. Mục Kiền Liên vô cùng thương tâm, thỉnh cầu Đức Phật cứu mẹ. Đức Phật bảo ông thắp đèn tứ cửu (đèn phong sinh), thỉnh chư Bồ Tát, hoá kiếp mẹ Kiền Liên từ ngục ngạ quỷ đầu thai làm cẩu (chó) ở thành Vương Xá.

Kiền Liên về Vương Xá gọi mẹ, cẩu liền chạy ra, mẹ Kiền Liên than khóc rằng tuy thoát kiếp ngạ quỷ nhưng thân cẩu suốt đời thì cũng khác chi địa ngục.

Mục Kiền Liên lại cầu xin Đức cứu mẹ thoát kiếp cẩu thân. Phật Thích Ca Mâu Ni nói với ông rằng, “Con tuy hiếu thuận, làm cảm động đất trời, nhưng mẹ của con tột nghiệt nặng nề, là một người không thể cứu độ được. Thiên Thần, Địa Kỳ, tà ma ngoại đạo, Đạo sĩ Tứ Thiên Vương Thần cũng không thể làm gì được. Dùng uy thần lực của chúng tăng tu thập phương mới giải thoát được”. Mục Kiền Liên nghe lời Đức Phật, lập đàn lễ Vu Lan, thỉnh sự hợp lực thần uy của chúng tăng giúp đỡ. Ông đã hoàn thành tâm nguyện, giúp người mẹ đã mất thoát khỏi khổ nạn thân cẩu bần hàn.

Từ đó, Mục Liên ngày đêm đem hết lời khuyên mẹ sám hối, quy về chính đạo mà tu thân, tích đức hành thiện. Bà mẹ nghe lời con, nhất tâm sám hối, một lòng tu luyện, rồi một đêm Rằm tháng Bảy, hoá thành tiên bay lên trời.

Dựa vào sự tích ấy, cứ đến ngày Rằm tháng Bảy, các đền chùa, miếu mạo đều làm chay chạy đàn, cấp siêu độ cho các tội nhân. Tục gọi là Tết Vu lan. Mọi nhà cũng đều làm lễ cúng bái rất thành kính vì tin rằng ngày đó là người ở dưới âm, vong nhân xá tội cho những người quá cố.

Tôn giả Mục Kiền Liên cứu mẹ
Tôn giả Mục Kiền Liên cứu mẹ (ảnh minh hoạ)

Vì sao đệ tử đệ nhất thần thông của Đức Phật không tự cứu được mẹ mình?

Ngày nay, sự tích Mục Kiền Liên báo hiếu mẹ lại được diễn giải lại theo cách hoàn toàn khác, rằng để cứu được mẹ, Mục Kiền Liên thỉnh Đức Phật và nhờ hợp lực của chư tăng khắp mười phương, bằng cách sắm sửa lễ cúng dường thực phẩm cho Tăng đoàn vào ngày Rằm tháng Bảy, và nhờ lời chư Tăng chú nguyện mà mẹ ông được cứu độ. Vậy nên vào ngày này người ta thường sắm sanh lễ lạt, đốt hương, đốt giấy vàng mã quần áo, hàng hóa bằng giấy để cúng dường, thực hiện các nghi lễ để chuyển hóa và giải oan khổ của người quá cố. Ngoài ra còn có tập tục phóng sinh, biểu tượng cho việc giải thoát vong linh.

Theo kinh điển, để tìm cách cứu mẹ mình, tự thân ông đã bước vào tu luyện, đến gặp Đức Phật để thọ giới, nghe những lời dạy và khai thị của Đức Phật, hành trình theo Pháp lý, đoạn ác tu Thiện, và đắc thành quả vị La Hán. Mục Kiền Liên trở thành vị đệ tử có thần thông đứng đầu trong số mười đại đệ tử của Phật Thích Ca. Các đệ tử khác cũng có một số thần thông, nhưng thần thông của Mục Kiền Liên là toàn diện nhất.

Mặc dù thần thông cao siêu như vậy như Mục Kiền Liên không thể tự mình cứu được mẹ. Lòng hiếu của ông cảm động Đức Phật nhưng Ngài và tăng đoàn hợp lực cũng chỉ giúp được mẹ Mục Kiền Liên thoát khỏi kiếp ngạ quỷ, thân cẩu bần hàn, theo giáo lý nhà Phật, chỉ có con người mới có thể tu luyện, và chỉ có bằng cách tu luyện, con người mới có thể tiêu trừ nghiệp lực do những việc ác từng làm trong quá khứ.

Đức Phật hoàn toàn không phải vì ông là đệ tử thân cận nhất mà tự ý tiêu giải nghiệp lực do tội nghiệp của mẹ ông gây ra. Mẹ Kiền Liên nhờ đó mới thật tâm sám hối, thành tâm đoạn ác tu Thiện, phá mê khai ngộ.

Sự tích Kiền Liên cứu mẹ nói về lòng hiếu thảo của người con, nhưng cốt lõi của câu chuyện là nhờ tu luyện mà Kiền Liên đắc quả vị, từ đó giác ngộ ra con đường giải thoát, chỉ có duy nhất một cách là tu luyện, bởi vậy nên ông chỉ có thể giúp mẹ đi theo con đường tu luyện, sám hối, quay đầu, bồi đắp công đức, thật sự chuyển phàm thành thánh. 

Đạo Trời không thiên vị ai

Lão Tử nói: “Thiên đạo vô thân, thường ư thiện nhân” (Đạo Trời không thân với ai, mà thường ở chỗ người Thiện”.

Các Thánh nhân, người sáng lập tôn giáo xưa nay đều dạy nhân loại chỉ một chân lý, tích đức hành thiện mới được may mắn, mới có phúc lành. Cũng như Mục Kiền Liên, cách duy nhất để siêu độ cho người đã mất, là “đoạn ác tu Thiện”, dùng công đức hành thiện chân thực của chính bản thân, sám hối, giác ngộ, một lòng hướng tâm tu Phật, khởi phát tâm Thiện nơi mình để cảm hóa tâm Thiện song thân, mới có thể giúp mẹ chuyển hóa nghiệp lực, hồi hướng công đức của bản thân cho cha mẹ, đó mới là công đức chân thực.

Vậy nên cổ nhân có câu: “Trời không tuyệt đường người” – Trời đất chi phối vận mệnh của con người, mà đạo Trời có đức Hiếu sinh, nhất định sẽ cho con người một cơ hội bên trong đại nạn. Người mẹ của Mục Kiền Liên, phạm phải tội thập ác bất xá, vẫn có cơ may quay đầu, tu thành bậc chính giác, từ phàm thành Thánh, từ chốn địa ngục mà về nơi thiên giới.

Đức Hiếu sinh là đại Đạo của Thiên Địa. Đại Thiện là Hiếu hạnh lớn nhất của con người trong kiếp nhân sinh.

Phật Pháp xưa kia truyền ra chúng sinh là để giảng cho con người lẽ sống, tìm thấy chân lý, đạo lý làm người, pháp lý tu thành Thần. Chỉ qua chân chính tu luyện, chúng ta mới liễu ngộ, mới hiểu được chân tướng sự thật. Từ trong giác ngộ mới nắm bắt được cơ hội, có thể từ trong tuyệt cảnh mà tìm được con đường ra cho sinh mệnh của mình.

Lam Thư

Đính chính: Câu chuyện sự tích Mục Kiền Liên cứu mẹ trong bài viết đăng tải ngày 12/8/2022 có chi tiết nhầm lẫn (Mục Kiền Liên hoá phép cho con chó thành người). Nay xin sửa lại sát với bản gốc “Mục Liên cứu mẫu kinh diễn âm” như trên. Chân thành cáo lỗi quý độc giả.