Âu Dã Tử là người nước Việt, sống vào khoảng những năm từ cuối thời Xuân Thu đến đầu thời kỳ Chiến Quốc. Ông được coi là ông tổ nghề rèn kiếm của Trung Hoa cổ xưa…

Theo như “Việt tuyệt thư” ghi chép, Âu Dã Tử từng rèn cho Việt Vương Doãn Thường 5 thanh bảo kiếm là: Trạm Lư, Cự Khuyết, Thắng Tà, Ngư Trường, Thuần Quân. Rèn cho Sở Chiêu Vương ba thanh bảo kiếm: Long Uyên, Thái A, Công Bố. Tương truyền con gái Âu Dã Tử tên là Mạc Tà, còn Can Tướng là con rể của ông. Hai thanh kiếm Can Tướng và Mạc Tà chính là do con gái và con rể ông rèn thành.

Sở Chiêu Vương mời thầy xem kiếm Phong Hồ Tử đến để tư vấn, ông nói: “Ta nghe nói nước Ngô có Can Tướng, nước Việt có Âu Dã Tử, hai người này đều vô cùng xuất chúng, đứng đầu hiện nay, thiên hạ chưa từng có người nào như vậy. Tinh thần của họ rất chân thành, phía trên tương thông với Trời, phía dưới hóa thành ý chí kiên cường và việc làm siêu xuất hơn người. Ta muốn đem bảo vật quý giá của cả nước giao hết cho ông, hy vọng ông thông qua Ngô Vương để mời hai người này đúc tạo kiếm sắt cho ta, ông bằng lòng không?”. Phong Hồ Tử trả lời rằng: “Bằng lòng”. Thế là, Sở Chiêu Vương phái Phong Hồ Tử đi đến nước Ngô và nước Việt gặp Âu Dã Tử và Can Tướng, xin họ đúc tạo kiếm sắt cho Sở Chiêu Vương.

Sở Chiêu Vương phái Phong Hồ Tử đi gặp Âu Dã Tử và Can Tướng, xin họ đúc tạo kiếm sắt. Ảnh minh họa: Tranh của Cửu Anh nhà Minh.

Âu Dã Tử và Can Tướng khai quật Tỳ Sơn, khơi thông nước suối, đào tìm những cục sắt đẹp tinh xảo, đúc thành ba thanh kiếm: Tên của mỗi thanh kiếm là Long Uyên, Thái A, Công Bố. Sau khi đúc thành kiếm sắt, Phong Hồ Tử đem kiếm tặng cho Sở Chiêu Vương. Sở Chiêu Vương nhìn thấy linh khí xuất hiện trên những thanh kiếm này, vô cùng vui mừng, liền truyền gọi Phong Hồ Tử, hỏi ông ta rằng: “Ba cây kiếm này tượng trưng điều gì? Mỗi thanh kiếm có tên gọi là gì?”, Phong Hồ Tử trả lời rằng: “Thanh  đầu tiên tên Long Uyên, thanh thứ hai tên Thái A, thanh thứ ba tên Công Bố”.

Sở Chiêu Vương lại hỏi: “Tại sao gọi là Long Uyên, Thái A, Công Bố?”, Phong Hồ Tử đáp rằng: “Muốn biết kiếm Long Uyên thì quan sát hình dạng thần thái của nó, hình dạng thần thái của nó giống như leo lên trên núi cao, ở trên cao nhìn xuống vực thẳm vậy; muốn biết kiếm Thái A thì phải quan sát hoa văn của nó, hoa văn của kiếm Thái A cheo leo sâu dày, giống như hình gợn sóng của dòng nước chảy; muốn biết kiếm Công Bố thì cũng phải quan sát hoa văn xuất hiện trên thân kiếm, hoa văn của kiếm Công Bố nổi lên giữa các đường hoa văn uốn lượn cho đến chỗ phía sau thì không nhìn thấy nữa, giống như ngọc quý nhưng lại không thể đính lên trên trang phục, hoa văn hình sọc giống như dòng nước tuôn chảy không ngừng”.

Sau khi Tấn Trịnh Vương nghe được chuyện này liền muốn đi xin ba thanh bảo kiếm trên, nhưng không ngờ, lại vì chuyện này mà đưa binh đi vây đánh thành đô của nước Sở, bao vây thành ba năm mà không rút quân. Lúc này tình hình trong thành rất nguy hiểm, lương thực trong kho lương đã cạn kiệt, vũ khí trang bị trong kho binh khí cũng hao tổn gần hết, mà các thân tín, đại thần và các hiền triết bên cạnh Sở Chiêu Vương cũng không có cách nào đột phá vòng vây của địch. Thế là, Sở Chiêu Vương cầm lấy thanh kiếm Thái A, bước lên trên lầu thành, đích thân chỉ huy binh lính tác chiến. Kết quả, ba nhánh quân của nước Tấn thua trận rút lui, các binh sĩ của nước Tấn đều rơi vào cảnh tinh thần mê loạn, máu chảy ngàn dặm, thú dữ lũ lượt kéo đến dòm ngó. Tấn Trịnh Vương vì chuyện này mà lo lắng đến nỗi chỉ trong một đêm, toàn bộ tóc trên đầu đều biến thành màu trắng.

Sở Chiêu Vương vô cùng vui mừng, hỏi Phong Hồ Tử: Đây là do oai thần của bảo kiếm, hay là do lòng dũng cảm của ta? Ảnh minh họa: Tranh của Lý Đường – nhà Tống.

Sở Chiêu Vương vô cùng vui mừng, hỏi Phong Hồ Tử: “Đây là do oai thần của bảo kiếm? Hay là do lòng dũng cảm của ta?”, Phong Hồ Tử trả lời rằng: “Là do oai thần của bảo kiếm, nhưng cũng được trợ giúp bởi sự thần dũng của quân vương”. Sở Chiêu Vương nói: “Bảo kiếm chỉ là kiếm được đúc bằng sắt, vốn dĩ có thể có tinh khí oai thần như vậy sao?”, Phong Hồ Tử trả lời: “Thời đại đã khác rồi, là thời đại khiến nó có oai thần như vậy. Vào thời đại của Hiên Viên, Thần Nông, Hách Tư Thị, dùng đá để làm binh khí, nhặt những cành cây bị gãy để dựng thành nhà chòi, người chết thì đắp đất lên trên xác chết rồi an táng, đây là quân chủ thần thánh dạy con người làm như vậy. Đến thời đại của Hoàng Đế (Hiên Viên Hoàng Đế), dùng ngọc thạch chế tạo binh khí, chặt gỗ dựng nhà một cách có ý thức, người chết được đào đất chôn cất. Ngọc thạch là vật thần kỳ linh dị, nhưng cũng là gặp được quân chủ thánh minh, mới dạy mọi người làm như vậy. Vào thời của Hạ Vũ, dùng đồng chế tạo binh khí, còn dùng đồng chế tạo thành công cụ để đi khai quật Y Khuyết, nạo vét cửa rồng, dẫn nước ở sông hồ về hướng đông, đưa nước vào Đông Hải. Khi đó, thiên hạ thuận hòa thái bình, thế là xây dựng cai quản cung thất, đây chẳng phải là dựa vào sức mạnh của bậc quân chủ thánh minh hay sao? Vào thời đại hiện nay, binh khí được đúc từ sắt, dùng vũ lực để điều khiển quân đội. Sau khi thiên hạ nghe thấy, không có người nào dám không quy thuận khuất phục nữa. Đây chính là oai thần của binh khí làm bằng sắt, cũng là tỏ rõ đức hạnh thánh minh vốn có của một quân vương”. Sau khi Sở Chiêu Vương nghe xong, nói rằng: “Ta hiểu rồi”.

Theo Sound of Hope
Châu Yến biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

videoinfo__video3.dkn.tv||8ef81fd89__

Ad will display in 09 seconds