Nếu xét theo định nghĩa về ‘phong kiến’ thì những vương triều Việt Nam như Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn… không phải là thể chế ‘phong kiến’ mà là ‘trung ương tập quyền’…

Phong kiến’ khác ‘trung ương tập quyền

Khái niệm ‘vương triều phong kiến’ bắt đầu từ triều đại nhà Chu (1134 TCN – 221 TCN) (1). Sau khi Chu Vũ Vương phạt Trụ thành công, ông đã chia thiên hạ thành rất nhiều quốc gia nhỏ lẻ, sau đó ‘phân đất phong hầu’ (phân phong) cho 800 chư hầu đến cai quản các vùng đất khác nhau. Những người được phân phong chia làm 3 bộ phận:

+ Bộ phận thứ nhất là con em hoàng tộc của ông. Ví dụ như em trai ông là Chu Công Đán được ban phong đến nước Lỗ. Nhưng Chu Công Đán đã không đến mà sai con trai của mình là Bá Cầm đến nước Lỗ để trị vì đất nước. Chu Công Đán vẫn ở lại kinh thành để phụ trách chế định Lễ – Nhạc cho nhà Chu và phò tá Thành Vương. Bộ phận thứ nhất này chiếm khoảng 80%. 

+ Bộ phận thứ hai là những người lập được đại công trong chiến tranh. Ví Khương Tử Nha được phong đến nước Tề, nên ông được gọi là ‘Thiên Tề chí tôn’. Vùng đất lớn Tề Lỗ năm xưa chính là chỉ tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc ngày nay, toàn bộ một khu vực vô cùng rộng lớn ấy được phong cho Khương Tử Nha.

+ Bộ phận thứ ba là những bề tôi của triều đại trước đó. Ví như Cơ Tử, (có người nói Cơ Tử là anh họ của Trụ Vương, cũng có người nói ông là chú của Trụ Vương) được phong đến Triều Tiên, tức bán đảo Triều Tiên ngày nay, ông cũng chính là người đầu tiên dựng nước ở nơi đó.

Tiện thể đề cập đến khái niệm ‘quốc gia’ thời nhà Chu. Nó không giống với khái niệm quốc gia mà chúng ta biết hiện nay, mà là khái niệm ‘bang quốc’ (vùng đất lớn trong thiên hạ).  

Sau khi những người được phong đất đến bang quốc của mình, họ phải đến biên giới lãnh thổ của mình, xới đất lên rồi trồng cây thông phân định lãnh thổ tại đó. Động tác này gọi là ‘phong’. Do đó chữ ‘phong’ là chỉ việc xới đất ở nơi biên giới rồi trồng cây thông vào. Nghĩa gốc của chữ ‘phong’ – 封 cũng mang hàm nghĩa như vậy, sau này chữ ‘phong’ còn chỉ phong tỏa, phong bế, phong sát (cấm vận), niêm phong v.v.

Chữ Phong – 封 trong chữ Giáp cốt và Kim văn đều giống một tay đang đắp đất trồng cây. Người xưa dùng phương thức này để xác định biên giới. Ảnh chụp từ cuốn ‘Tìm về cội nguồn chữ Hán’ của tác giả Lý Lạc Nghị.

Còn ‘kiến’ có nghĩa gì? Khi một vị vua được Thiên tử chỉ định làm người thống trị của vùng đất nào đó, thì gọi là ‘kiến’. 

Vậy nên, ‘phong kiến’ trên thực tế là ‘phong thổ kiến quốc’.

Còn thế nào là ‘trung ương tập quyền’? Sau khi Tần Thuỷ Hoàng chinh phục sáu nước, thống nhất thiên hạ, ông đã ‘phế bỏ phân phong, thiết lập quận huyện’ (phế phân phong, trí quận huyện). Ông chia thiên hạ thành 36 quận, dưới quận là huyện. 

Nếu ở chế độ phân phong, chư hầu thống trị một quốc gia tương đối độc lập, người ấy có quân đội riêng, tài chính riêng, có quyền bổ nhiệm/bãi nhiệm. Còn Huyện lệnh trong chế độ quận huyện không phải là chủ nhân của quận hoặc huyện đó, mà chỉ phụ trách việc trị lý ở nơi ấy; giống như trong một công ty, họ không phải là Chủ tịch hội đồng quản trị, mà chỉ là một Giám đốc điều hành – CEO. 

Chế độ quận huyện là quốc gia phái quan lại đến quận hoặc huyện đó để trị lý, Huyện lệnh không phải dựa vào thu thuế để nuôi sống bản thân, mà là dựa vào bổng lộc của chính phủ trung ương.

Nếu theo định nghĩa về ‘phong kiến’ như trên thì những vương triều Việt Nam như Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn… hay ở Trung Quốc như Tần, Hán, Tuỳ, Đường… không phải là ‘phong kiến’ mà là ‘trung ương tập quyền’, người có tài ra làm quan rồi nhận bổng lộc của chính phủ trung ương chứ không có quyền thu thuế, trưng binh hay bổ nhiệm/bãi nhiệm trên vùng đất đó. 

Thước, khắc bất đồng do thời đại

Trong ‘Đông Chu liệt quốc chí’ có miêu tả về Ngũ Tử Tư như sau: “Ngũ Tử Tư là người vùng Giám Lợi, thân cao một trượng, mày dài một thước, ánh mắt như điện. Có cái dũng bạt sơn cử đỉnh (2), có cái tài kinh văn vĩ võ (3)”.

Ở đây có đề cập đến Ngũ Tử Tư cao tới 1 trượng. Trượng là đơn vị đo chiều dài thời xưa, 1 trượng = 10 xích (còn gọi là thước). 

Tượng Ngũ Tử Tư ở Tô Châu. (Nguồn: Wikipedia)

Thời nhà Chu, xích/thước có hai độ dài khác nhau, một thước có thể là 19,91 cm, hoặc cũng có thể gần bằng 23 cm. Nếu lấy con số nhỏ nhất là 19,91 cm cho 1 thước, thì 1 trượng bằng 1,99 m, tương đương với việc Ngũ Tử Tư cao gần 2 m. Còn nếu lấy 1 thước bằng 23cm thì Ngũ Tử Tư cao ngang Yao Ming (Diêu Minh)!

Trong ‘Đông Chu liệt quốc chí’ miêu tả Ngũ Tử Tư “thân cao một trượng, mày dài một thước”, cho dù đó chỉ là cách nói ước lệ thì cũng là để thể hiện rằng Ngũ Tử Tư hết sức cao lớn, lông mày cũng rất dài.

Mọi người tra từ điển thì sẽ thấy 1 thước còn bằng 0,33 m tức 33 cm. Do đó đơn vị đo chiều dài trong các thời kỳ khác nhau cũng khác nhau. Đến khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất thiên hạ, ông mới quy chuẩn lại hệ thống đo lường chiều dài, khối lượng, thể tích. Sau này Hán Vũ Đế cũng thống nhất các đơn vị đo lường lại một lần nữa. 

Một khắc bằng bao nhiêu phút?

Giáo sư Chương Thiên Lượng nhìn nhận Ngũ Tử Tư là nhân vật ‘phong vân’, tung hoành trong thiên hạ trong suốt 30 năm, đồng thời có nhiều điển cố và khái niệm liên quan đến ông, cho nên giới thiệu một chút về nhân vật này. 

Ngũ Tử Tư là người nước Sở. Quân vương nước Sở bấy giờ là Sở Bình Vương. Sở vương lập con trai trưởng là công tử Kiến làm thái tử, chỉ định Ngũ Xa và Phí Vô Kỵ làm thầy và phò tá thái tử. Ngũ Xa chính là cha của Ngũ Tử Tư. Ngũ Tử Tư còn có anh trai là Ngũ Thượng. 

Thái tử Kiến và Ngũ Xa đều không ưa Phí Vô Kỵ vì con người này tiểu nhân nham hiểm, lòng dạ hẹp hòi. Phí Vô Kỵ biết rằng nếu mai này công tử Kiến làm quân vương nước Sở thì mình sẽ khó sống nên ông ta bèn dùng kế hại thái tử và Ngũ Xa.

Phí Vô Kỵ xúi giục Sở Bình Vương cướp vợ của thái tử, sau đó đẩy thái tử và Ngũ Xa đi trấn giữ vùng xa xôi. Sau này Phí Vô Kỵ gièm pha thái tử tạo phản nên thái tử đành lưu vong sau đó chết ở nước Trịnh. Phí Vô Kỵ còn hại chết cha và anh trai Ngũ Tử Tư.

Ngũ Tử Tư lưu vong các nước nhưng vì các nước ấy là nước nhỏ và coi nước Sở là ‘mẫu quốc’ nên không thể ở lại, chỉ còn một nơi có thể lánh nạn được đó là nước Ngô.

Nhưng trước khi Ngũ Tử Tư đến được Ngô, ông phải qua Chiêu Quan, một nơi vẫn thuộc đất Sở. Khi đó có một thầy thuốc tốt bụng là Đông Cao Công cho ông tá túc để chờ cơ hội vượt Chiêu Quan. Qua 7 ngày không qua được quan, Ngũ Tử Tư mới nói với Đông Cao Công: “Tôi có đại thù trong tim, một khắc dài như một năm, kéo dài như thế, tôi như người chết. Tiên sinh là người cao nghĩa, lẽ nào không thấy đáng thương sao?”.

Ở đây có khái niệm một khắc. Giáo sư Chương nghiên cứu rằng, theo cách tính thời gian của người Trung Quốc cổ đại, họ phân một ngày 24 giờ thành 100 khắc. Hiện tại chúng ta nói một khắc là 15 phút, nhưng thời đó là 14,4 phút tức 14 phút 24 giây. 

Ở Chiêu Quan, Ngũ Tử Tư đã để lại một điển tích là ‘nhất dạ bạch phát’ – một đêm tóc bạc trắng. Rốt cuộc Ngũ Tử Tư có vượt được Chiêu Quan để đến nước Ngô không? Có những khái niệm nào tiếp theo liên quan đến nhân vật phong vân này, Giáo sư Chương sẽ có góc nhìn gì từ những hành động của Ngũ Tử Tư?… Kính mời quý độc giả đón xem phần tiếp theo.

Mạn Vũ

Chú thích:

(1) Theo Chiến Quốc sách – Chu sách.

(2) Bạt sơn cử đỉnh: Nhổ núi nâng đỉnh, chỉ sức mạnh phi thường.

(3) Kinh văn vĩ võ: văn võ tung hoành.