Theo ghi chép lịch sử kể rằng, một người lính của Hessian nhắm vào tướng Washington và bắn liên tiếp. Cả bốn viên đạn bay xuyên qua áo choàng bên ngoài và bản thân ông cũng không hề hấn gì, tựa như vị tướng quân này suốt đời miễn nhiễm với súng đạn chiến trường vậy!…

Loạt bài về George Washington

Quay Trở lại với câu chuyện sương mù trắng trên sông Đông mà chúng tôi đề cập ở kỳ trước. Khi chuyến tàu cuối cùng đưa tướng Washington rời Brooklyn Heights, từ phía sau thuyền vang lên tiếng súng của quân Anh. Sương mù tan, mặt sông không còn bị che phủ. Vậy là chỉ trong một đêm tất cả đám dân binh bị coi là “phản tặc” ấy đã bất ngờ chạy thoát qua sông ngay trước mắt quân Anh. Tướng Howe vô cùng giận dữ và bất ngờ không hiểu vì sao, và họ đã làm được điều ấy như thế nào? 

Tháng 9 đến, trên sông Đông đã nổ ra cuộc đấu súng giữa Lục quân Anh và quân đội Lục Địa. Sông Đông nằm tại bờ biển Đại Tây Dương ở New York, lúc ấy đang là cuối hè và đầu thu, gió lạnh càng lúc càng nhiều, những cơn mưa tầm tã bất giác từ trên trời trút xuống. Đường phố Manhattan nhiều ngày mưa nặng hạt, quần áo của họ ướt, lều cũng ướt, thậm chí một số người không có lều nên phải ở bên ngoài chờ ánh nắng mặt trời tươi mới cùng những cơn gió để hong khô sự ẩm ướt sau cơn mưa. Trong mắt của người dân New York, trước đây họ vốn có cuộc sống tươi đẹp, nhưng giờ đây binh lính Lục quân Lục địa trông ốm yếu và gầy gò xanh xao, ngồi trên đường như những người tị nạn.

Trong khi đó, tướng Washington không phút nào ngơi nghỉ, ông cưỡi ngựa đi tuần khắp nơi vì lo sợ rằng nếu không chú ý thì những dân quân không được huấn luyện kỷ luật sẽ cầm súng đến cướp nhà dân. Hơn nữa, khi Washington cùng đoàn tùy tùng vượt qua sông thì họ đã hoàn toàn lộ diện trước tầm bắn của kẻ thù. Tướng Washington có thân hình cao lớn với chiều cao gần 1,9 mét, ông ngồi trên con ngựa trắng cũng vô cùng bắt mắt và dễ dàng trở thành mục tiêu giữa đám đông. Lính đánh thuê Hessian của Đức kể lại rằng, lúc đó, một binh lính Hessian bắn liên tiếp nhiều phát đạn vào tướng Washington, nhưng chỉ 4 viên đạn găm xuyên qua áo choàng của tướng quân còn bản thân ông không hề hấn gì. Ông quả là vị tướng hoàn toàn miễn nhiễm với súng đạn trên chiến trường đây cũng là điều được công nhận từ các nhà nghiên cứu lịch sử trong hơn hai trăm năm qua. 

New York là thành phố thịnh vượng, tràn đầy sức sống và không kém phần sôi động. Khác xa với sự nhiệt thành và khao khát tự do của dân chúng ở Boston, Người dân Manhattan là những công dân thích tiền nhất trên thế giới, họ không mấy mặn mà với cuộc cách mạng giành độc lập, hơn nữa trong số đó có nhiều người theo chủ nghĩa bảo hoàng, là những người đã cung cấp thông tin tình báo cho quân Anh. Tại thành phố này, quân đội Lục quân Lục địa phải đối mặt với những trận chiến khốc liệt và liên tiếp thất bại. Hẳn bạn vẫn còn nhớ câu chuyện Benjamin Tallmadge mà chúng tôi đã đề cập ở trong bài viết kỳ trước? Một người bạn học của Benjamin là Nathan Hale không may bị bắt trong trận chiến giữa Lục quân Lục địa và quân Anh vào tháng 9, ông ấy đã bị tra tấn đến chết trong nhà tù ở New Jersey khi mới 24 tuổi. Ông đã để lại một câu nói nổi tiếng trước khi bị treo cổ trên pháp trường: “Tôi tiếc rằng tôi chỉ có một cuộc đời để hy sinh cho Tổ quốc”.

Nathan Hale là bạn cùng lớp với Talmage khi cả hai cùng học tại Đại học Yale. Hưởng ứng cuộc chiến tranh giành độc lập, đôi bạn thân cùng nhập ngũ dưới sự lãnh đạo của tướng Washington, và trở thành quân nhân phục vụ trong quân đội Lục địa trong cuộc cách mạng Hoa Kỳ. Nathan Hale nhận lệnh thu thập thông tin tình báo nhưng sau đó bị quân Anh bắt được. Câu nói trên là lời cuối cùng mà Nathan Hale để lại trước khi bị treo cổ sau trận chiến trên đảo Long Island.

Trận chiến trên vịnh Kip

Vào ngày 15 tháng 9, quân Anh đổ bộ vào cảng Deepwater của vịnh Kip gần đường 33 ở Manhattan. Các tàu chiến hùng hậu của Hải quân Hoàng gia Anh dàn hàng ngang trên sông Đông, tập trung hỏa lực và bắn vào bờ những khẩu pháo lớn ầm ầm đầy khói. Lục Quân Lục địa không cách nào chống đỡ và phải đối mặt với khói và súng đạn bay trên mặt đất. Những người lính còn có thể mở mắt trong khói súng thử cử động tay chân, và nhận ra mình vẫn còn sống, tay chân vẫn còn, họ nhanh chóng quay đầu bỏ chạy tán loạn. Ngay cả khi quân tiếp viện đã tới, thì vì quá sợ hãi mà họ không thể đứng vững, kết quả đội quân tan rã tháo chạy tán loạn để giữ mạng. 

Năm 1776, quân đội Anh đổ bộ vào Vịnh Kip (ảnh: Phạm vi công cộng).

Khi ấy, tướng Washington đang ở sở chỉ huy tại Hamlin, ông vội băng ra trận địa và thấy binh lính đang ồ ạt bỏ chạy. Ông lập tức vung kiếm lên và hét to: “Ổn định!”. Mặc dù Washington cố gắng ngăn chặn sự tan rã của nhóm dân quân đang sợ hãi trước trận pháo súng, nhưng vẫn vô ích, các chiến sĩ bại trận đã co chân chạy trốn, đằng sau là thi thể của đồng đội bị tan tành vì súng pháo. Tướng Washington một mình vung gươm và phi ngựa lao về phía kẻ thù, nhưng ngay khi những phụ tá của ông nhìn thấy, họ đã lao về phía trước trong làn mưa đạn và cố gắng tóm lấy dây cương ngựa để ngăn cản không cho Washington chiến đấu một mình. Theo cách này, tướng Washington bị kéo lại, bị bao vây bởi các trợ lý và hòa vào đám đông đang bỏ chạy. Ông tức giận đến mức túm chiếc mũ trên đầu ném xuống đất, người trợ lý nhặt lên, và ông lại ném thêm lần nữa. Washington vô cùng đau đớn tự hỏi: “Trời ơi, đây là quân đội của ta ư, là binh lính của ta ư?”. 

Sau trận chiến tại vịnh Kip, quân Anh đổ bộ vào Manhattan. Tiếp theo là trận Halim và một trận khác là trận White Plains vào tháng 10, sau đó pháo đài Washington đã trở thành chiến trường cuối cùng tại New York. Kể từ đó, quân đội Lục quân Lục địa đã mất New York, mãi cho đến khi chiến tranh giành độc lập kết thúc.

Nước mắt Washington

Pháo đài Washington nằm tại Washington Heights, New York ngày nay. Pháo đài được xây dựng trên vách núi đá và được bao quanh bởi hồ nước. Đây là nơi tổ chức các cuộc họp của Lục quân Lục địa và thường được coi là tuyến phòng thủ cuối cùng của New York, dễ phòng thủ mà khó bị tấn công. 

Vào thời điểm đó, tướng Washington đã nhiều lần báo cáo với quốc hội rằng quân đội Lục quân Lục địa cần phải từ bỏ New York, vì ông biết rằng không thể giữ được thành trì ấy nữa, và quốc hội cũng đã chỉ thị rõ rằng cần từ bỏ New York. Tuy nhiên, cấp dưới và người bạn thân nhất của ông là tướng Green lại phản đối, tích cực vận động bảo vệ Pháo đài Washington và quyết không thể dâng vùng đất trọng yếu này cho quân địch. Đại tá McGaw, người đã gây thiệt hại nặng nề cho kẻ thù trong các trận chiến trước đó, cũng vỗ ngực đảm bảo rằng ông sẽ ở lại pháo đài với ít nhất 3.000 binh sĩ để phòng thủ cho đến tháng Hai năm sau.

Tuy nhiên, đối với lực lượng Hải quân Hoàng gia Anh với sức chiến đấu mạnh nhất thế giới, thì Pháo đài Washington mặc dù được phòng thủ với thế dựa núi và bao quanh bởi hồ nước nhưng vẫn không phải là nơi nguy hiểm không thể vượt qua về mặt chiến thuật. Ngày 15 tháng 11, tướng Howe ra tối hậu thư kêu gọi binh lính trong pháo đài đầu hàng, ngay sau khi bị từ chối ông ta đã phát động cuộc tấn công ngay trong đêm. Tàu chiến Anh nhanh chóng phong tỏa toàn bộ sông Hudson và cắt đứt đường lui xung quanh núi, đồng thời bố trí một khẩu đại bác ở phía đối diện trên khu đất cao để nhắm vào Pháo đài Washington, cuộc tàn phá bắt đầu. Lợi dụng thủy triều dâng cao vào buổi chiều hôm sau, những binh lính Hessian của quân đội Anh di chuyển từ chân núi leo lên, do vấp phải sự chống trả quyết liệt của Lục quân Lục địa trên đường, một số trận xung phong của quân Anh đều thất bại. Khi Pháo đài Washington bị bao vây tứ phía và tất cả mọi phía đều thất thủ, đại tá McGaw tuyệt vọng đã dẫn binh lính xuống núi và đầu hàng. Lính Hessian, vốn là những người bị chặn bởi hỏa lực và thương vong nặng nề, đã lao lên với đôi mắt đỏ như máu, và dùng lưỡi lê đâm vào dân quân Lục quân Lục địa mặc dù họ đã đầu hàng, bất chấp nguyên tắc trên chiến trường là không giết người khi giao nộp súng. Chỉ trong một buổi chiều, trên vách đá hiu quạnh xác chết nằm la liệt, 2.800 tù nhân còn lại bị tống vào các trại tù.

Trại tù binh của Anh chẳng khác gì là địa ngục trần gian. Quân Anh lo sợ nếu thả những thanh niên trẻ tuổi dũng cảm này ra, thì khi trở về họ sẽ có thể cầm súng lên và tiếp tục chiến đấu, vậy nên quân Anh đã cố tình không để một ai tiếp tục sống sót. Một trong những nhà tù nơi giam giữ lính Mỹ là trên một con tàu lớn trôi nổi giữa vùng biển New Jersey. Một số lượng lớn tù binh của Lục quân Lục địa bị giam giữ tại đây. Trong con tàu đóng kín hoàn toàn, thiếu không khí, thiếu thốn lương thực và quần áo, trong khi các bệnh truyền nhiễm bắt đầu hoành hành và không ai được cứu chữa, mọi người nhìn đồng đội chết và xác bị ném xuống biển. Theo thống kê, trong cuộc chiến tranh giành độc lập, số binh lính bị tra tấn đến chết nhiều hơn số binh lính chết trên chiến trường, riêng trận chiến Pháo đài Washington này đã có hơn 2.800 binh sĩ chết trong 14 tháng, hơn 2.000 người vẫn bị giam giữ, nhưng số người còn sống và được thả ra chỉ khoảng 800 người. Từ đây cũng có thể thấy được bản chất của chế độ độc tài bạo ngược chuyên chế của Vương Quốc Anh dùng để cai trị các nước thuộc địa. 

Tại pháo đài Lee đối diện với Pháo đài Washington, đứng trên đỉnh đồi, tướng Washington thông qua ống nhòm đã chứng kiến ​​cảnh tượng thảm thương của những người bị giết và bị bắt sau khi đầu hàng. Nhiều quân sĩ và trợ lý đã ghi lại tiếng khóc của ông trong nhật ký của họ. Trong hoàn cảnh bại trận và tình huống bị vây kín tứ phía, những giọt nước mắt của tướng Washington đã khiến họ sợ hãi: Cuộc cách mạng có lẽ sẽ kết thúc ở đây, và điều đang chờ đợi sẽ là giá treo cổ do vua Anh giáng xuống…

Nhưng không! Ngày hôm nay khi nhìn về quá khứ hàng trăm năm về trước, những giọt nước mắt của tướng quân Washington dành cho binh lính của ông không khỏi khiến chúng ta cảm động và thấy ấm áp tình người.

Theo Epoch Times
Ngọc Châu biên dịch