Lúc nhỏ tôi có từng đọc qua thi phẩm “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu, cảm nhận được tâm trạng buồn bã của thi nhân và nỗi nhớ quê nhà. Từ xưa đến nay có rất nhiều bài thơ miêu tả nỗi buồn nhớ nhà, tại sao tác phẩm này lại đặc biệt được xem trọng như vậy?

Dưới đây là toàn bộ nội dung thi phẩm:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Bản dịch của nhà thơ Tản Đà:

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?
Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.
Hạc vàng đi mất từ xưa,
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông tạnh cây bày,
Bãi xưa Anh Vũ xanh dày cỏ non.
Quê hương khuất bóng hoàng hôn.
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?

Dịch nghĩa:

Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,
Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc.
Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại,
Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không.
Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương rõ mồn một,
Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi.
Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?
Trên sông khói toả, sóng gợn, khiến người sinh buồn!

Lúc nhỏ tôi có từng đọc qua thi phẩm “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu, cảm nhận được tâm trạng buồn bã của thi nhân và nỗi nhớ quê nhà. Những cách diễn giải trong lịch sử cũng dừng lại ở đây. Tuy nhiên, phong cách văn chương trong tác phẩm thực sự là quá tuyệt vời, không cần phải bàn luận thêm, từ xưa đến nay có rất nhiều những cách hiểu và lý giải liên quan đến thi phẩm bất hủ này, tôi sẽ không nhắc lại trong bài viết nữa. Mấy ngày trước tôi vô tình đọc lại thi phẩm này, nhưng lần này cảm nhận của tôi hoàn toàn khác so với trước đây. Từ xưa đến nay có rất nhiều bài thơ miêu tả nỗi buồn nhớ nhà, tại sao tác phẩm này lại đặc biệt được xem trọng như vậy?

Lầu Hoàng Hạc, ảnh chụp những năm 1920 (nguồn: Wikipedia).

“Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ, thử địa không dư Hoàng Hạc lâu. Hoàng hạc nhất khứ bất phục lai, bạch vân thiên tải không du du”.

Truyền thuyết kể rằng thời xưa có một tiên nhân tên Tử An cưỡi hoàng hạc bay ngang qua nơi này (xem “Tề Hài Chí”), lại nói rằng Phí Văn Vĩ đã đắc Đạo thành Tiên, tại nơi đây ông cưỡi hạc bay lên trời (xem “Thái Bình Hoàn Vũ Ký” được trích trong “Đồ Kinh”). Bài thơ này được hình thành dựa trên tên của lầu các này (tức Hoàng Hạc Lâu), mượn truyền thuyết để viết, sau đó mở rộng và phát triển. Thật ra đây mới chính là mấu chốt của thi phẩm. Đối với người bình thường mà nói, việc Tiên nhân cưỡi hạc bay lên trời vốn dĩ là chuyện hư cấu, nhưng đối với người tu luyện mà nói thì đây là chuyện rất bình thường. Bối cảnh sáng tác bài thơ này là vào thời nhà Đường, nhà Đường là một triều đại vô cùng tín ngưỡng Thần Phật, phong trào tu Tiên tu Đạo được phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn này. Mấy câu thơ này của Thôi Hiệu thật ra là thể hiện tín tâm của mình đối với tu luyện và sự ngưỡng mộ dành cho những người thành Đạo.

“Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ, phương thảo thê thê Anh Vũ châu. Nhật mộ hương quan hà xứ thị? Yên ba giang thị sử nhân sầu”.

Những câu thơ có tình có cảnh, có âm thanh có màu sắc, điều mà Thôi Hiệu thực sự muốn diễn tả có phải là nỗi buồn nhớ nhà không? Đúng vậy, nhưng mà chữ “hương” này không phải là quê hương, quê nhà ở nhân gian, ít nhất thì tỷ lệ này rất nhỏ, chữ “hương” trong bài thơ này là đang ám chỉ không gian tầng cao, là nơi bắt nguồn sự sống của con người, đó mới thực sự là “nhà”. Tâm nguyện muốn quay trở về cội nguồn của tác giả được diễn đạt một cách súc tích, có mối tương quan chặt chẽ đối với tiên nhân cưỡi hạc ở câu trước. Chính vì có yếu tố tu luyện, nên mới mượn nỗi nhớ quê nhà ở phần thô bên ngoài để diễn đạt sự khao khát muốn quay về cội nguồn được ẩn chứa tinh vi bên trong, vì vậy mà bài thơ này có một sức sống rất mãnh liệt, lưu truyền thiên cổ.

Lý Bạch cũng từng đặt chân đến Hoàng Hạc Lâu, cũng muốn viết một bài thơ, nhưng khi nhìn thấy bài thơ này của Thôi Hiệu, ông liền từ bỏ ý định của mình, cho nên mới có hai câu thơ: “Nhãn tiền hữu cảnh Đạo bất đắc, Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu” (Hai câu này có nghĩa là: Trước mắt có cảnh đẹp mà không thể viết thơ để diễn tả, vì Thôi Hiệu đã viết một bài thơ hay lên tường từ trước rồi).

Không phải là tài hoa của Lý Bạch không bằng Thôi Hiệu, mà là vì Lý Bạch cũng là người tu Đạo, ông thực sự lĩnh hội được ý nghĩa thâm sâu mà Thôi Hiệu muốn diễn tả trong thi phẩm, Lý Bạch cảm thấy ý nghĩa của bài thơ cũng tương đồng với suy nghĩ của ông lúc bấy giờ, hơn nữa bài thơ “Hoàng Hạc Lâu” diễn đạt vô cùng tinh tế và súc tích, nhất thời cũng khó có thể viết ra một bài thơ khác hay hơn, vì vậy tốt hơn là không viết nữa. Về sau Lý Bạch viết bài thơ “Đăng Kim Lăng Phượng Hoàng Đài” như sau:

Phượng Hoàng đài thượng phượng hoàng du
Phượng khứ đài không giang tự lưu
Ngô cung hoa thảo mai u kinh
Tấn đại y quán thành cổ khâu
Tam sơn bán lộ thanh thiên ngoại
Nhị thủy trung phân Bạch Lộ châu
Tổng vi phù vân năng tế nhật
Trường An bất kiến khứ nhân sầu.

Dịch thơ:

Đài Phượng Hoàng cao, phượng đến chơi,
Phượng đi, đài vắng, dải sông trôi!
Cung Ngô hoa cỏ che đường lối,
Đời Tấn cân đai hoá núi đồi.
Ba ngọn thanh sơn, trời khuất nửa,
Một vùng Bạch Lộ nước chia đôi.
Chỉ vì mây nổi che vầng nhật,
Chẳng thấy Trường An não dạ người.
[Bản dịch: Khương Hữu Dụng].

Tạm dịch nghĩa:

Trên đài Phụng Hoàng đã từng có phụng hoàng qua lại
Từ khi phượng bay mất chỉ còn trơ đài, và nước sông tự chảy
Bên mé Ngô cung, hoa thảo mọc che lối đi âm u
Quan lại quý hiển thời Đông Tấn giờ chỉ là gò hoang
Ba ngọn núi nhô lên nối liền với trời xanh xa tít
Đảo Bạch Lộ chia đôi hai nhánh sông Tần Hoài
Chỉ bởi tại mây trôi làm che mất đi mặt trời
Không nhìn thấy Trường An làm người ta cảm thấy u sầu

Bài thơ này của Lý Bạch có thi tứ là mô phỏng theo tác phẩm “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu, cũng xem như là tác giả muốn thể hiện sự mến mộ dành cho Thôi Hiệu vậy.

Theo Vision Times
Châu Yến biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

videoinfo__video3.dkn.tv||7202c5f3c__

Ad will display in 09 seconds