Thương Ưởng là người đặt nền móng cho Pháp gia, còn Hàn Phi Tử là người hệ thống hoá tư tưởng của Pháp gia. Vậy Hàn Phi Tử là người như thế nào?

Hàn Phi Tử bình sinh

Hàn Phi Tử có xuất thân tương đối cao quý, ông là công tử của nước Hàn, thuộc dòng dõi vương thất. Hàn Phi Tử khá đẹp trai, nhưng ông mắc tật nói lắp. 

Chúng ta biết rằng thời Chiến Quốc khi Chư Tử biện luận, thì ‘khẩu tài’ (tài ăn nói) vô cùng quan trọng. Vì Hàn Phi Tử có khuyết điểm tiên thiên đó nên không giỏi biện luận, nhưng bù lại ông rất giỏi sáng tác, chính là viết rất nhiều sách. Trong ‘Sử ký’ chép rằng, Hàn Phi Tử và Lý Tư đều là học trò của Tuân Tử; bản thân Lý Tư cho rằng mình không bằng Hàn Phi Tử.

Tranh vẽ Hàn Phi Tử chụp từ sách ‘Trung Hoa văn minh sử’ quyển hạ.

Một số sách Hàn Phi Tử viết sau này dần dần được đưa đến nước Tần, Tần vương xem xong vô cùng bội phục. Tần vương đó chính là Tần Thuỷ Hoàng sau này. Tần vương nói rằng: ‘Ta hy vọng có thể kết giao bằng hữu với người như vậy, chết cũng không có gì hối tiếc’. Lý Tư nói: ‘Tác giả chính là đồng môn của thần – Hàn Phi Tử’. Thế là Tần vương dụng binh đối với nước Hàn, Hàn vương cho rằng nước Tần dùng binh chủ yếu là vì Hàn Phi Tử, thế là phái Hàn Phi Tử đi sứ nước Tần. 

Câu chuyện sau đó trong ‘Sử ký’ có chỗ không rõ ràng, có thể Tần vương muốn trọng dụng Hàn Phi Tử, nhưng Lý Tư gièm pha Hàn Phi Tử nói: ‘Hàn Phi Tử là công tử nước Hàn, dù thế nào thì khi Hàn Phi Tử làm quan nước Tần, khi suy nghĩ vấn đề đầu tiên sẽ cân nhắc đến lợi ích của nước Hàn chứ không phải nước Tần. Đây là lẽ thường tình của con người. Hơn nữa Hàn Phi Tử đã ở nước Tần một thời gian lâu như vậy, đã thu thập rất nhiều tình báo của nước Tần, nên khi về nước e rằng sẽ có hành động bất lợi đối với nước Tần’.

Như thế Tần vương tống Hàn Phi Tử vào ngục. Trong ‘Sử ký’ nói rằng: Lý Tư đưa cho Hàn Phi Tử một toa thuốc, sau khi Hàn Phi Tử uống xong liền trúng độc mà chết. 3 nhân vật đại biểu của Pháp gia cuối cùng đều chết thảm; Thương Ưởng bị ngũ mã phanh thây, Hàn Phi Tử bị Lý Tư đầu độc, còn Lý Tư bị chém ngang lưng.

Hàn Phi Tử là người hệ thống hoá tư tưởng của Pháp gia, ông lấy học vấn ‘Pháp’ của Thương Ưởng, ‘Thuật’ của Thân Bất Hại và ‘Thế’ của Thận Đáo kết hợp lại thành hệ thống tư tưởng Pháp gia hoàn chỉnh. 

Tiếp theo Giáo sư Chương Thiên Lượng sẽ giảng về 3 phương diện quan trọng của Pháp gia là: Pháp (法), Thuật (術) và Thế (勢), nhưng trong phạm vi bài viết chỉ đề cập đến một nửa ‘Pháp’, nửa còn lại cộng với ‘Thuật’ và ‘Thế’ thì nằm ở các phần tiếp theo.

‘Pháp’ của Pháp gia chính là ‘ác pháp’

Khái niệm ‘pháp trị’ và ‘pháp chế’

Chúng ta hễ đề cập đến ‘Pháp’ (法) thường cho rằng ‘pháp’ là pháp luật, nói rằng Pháp gia thích pháp luật thì có gì là không tốt. Nhưng ở đây, Giáo sư Chương đưa cho chúng ta 2 khái niệm vô cùng quan trọng đó là: ‘Pháp trị’ (法治) – Rule of law, và ‘Pháp chế’ (法制) – Rule by law.

Hai điều này có gì khác biệt? Là người nghiên cứu lịch sử và có am hiểu nhiều vấn đề xã hội, Giáo sư Chương chia sẻ rằng, Rule of law chính là dùng pháp luật để làm chuẩn tắc phán xét thị phi trong xã hội, hoặc là một biện pháp duy hộ công bình. Dưới pháp luật như vậy, mọi người đều bình đẳng, gồm cả chính phủ lẫn cá nhân cũng đều bình đẳng.

Giáo sư Chương lấy ví dụ về nước Mỹ, đây là quốc gia pháp trị, tôn trọng Rule of law, chính phủ nếu làm gì sai, người dân trăm họ cũng có thể khởi kiện chính phủ. Giả dụ như nói chính phủ Biden ban bố một lệnh hành pháp, cưỡng chế nhân viên của doanh nghiệp tư nhân phải tiêm vắc-xin, vụ kiện lên đến Tối cao Pháp viện, Tối cao Pháp viện phán Biden thua kiện, thì lệnh cưỡng chế này liền huỷ bỏ.

Điều này nghĩa là, nếu lệnh hành pháp của nó vi phạm pháp luật Mỹ, rất nhiều dân thường hoặc Tổng Chưởng lý (Tương đương Bộ trưởng Tư pháp) có thể khởi kiện đối với chính phủ liên bang, sau đó do Bộ Tư pháp và chính phủ địa phương hoặc cá nhân tiến hành khởi kiện; cuối cùng sẽ do Toà án Tối cao hoặc Toà án Liên bang phán xét. Do đó chính phủ cũng phải tuân thủ pháp lệnh, đây gọi là ‘pháp trị’ – Rule of law, mọi người đều tuân thủ pháp luật. 

Vậy ‘pháp chế’ – Rule by law là khái niệm như thế nào? Chính là chính phủ chuyên môn vì chỉnh trị, bức hại người dân mà chế định pháp luật. Pháp luật này trên thực tế không có công bình chính nghĩa. Hễ bạn làm điều chính phủ không thích, chính phủ sẽ bắt bớ hoặc bức hại bạn, sau đó họ còn nói đang ‘chấp pháp’ (thi hành pháp luật). Dưới loại tình huống này, kỳ thực chính phủ vượt trên pháp luật, đây gọi là ‘pháp chế’ – Rule by law.

Lịch sử Hồng Kông

Vì những điều trên nghe có vẻ trừu tượng, nên Giáo sư Chương lấy một ví dụ đơn giản, đó là việc ĐCSTQ thông qua ‘Luật An ninh Quốc gia Hồng Kông’ vào ngày 30/6/2020.

Có rất nhiều người theo dõi sự việc này, cũng biết tình huống đại khái. Nhưng vì loạt ‘Trung Hoa văn minh sử’ này không phải là chương trình bình luận, cho nên nội dung Giáo sư Chương giảng có thể đã qua vài năm, mấy chục năm, mấy trăm năm… đều sẽ có người xem. Có thể vì sự kiện qua lâu nên nhiều người không còn nhớ ngóc ngách ngọn nguồn ‘Luật An ninh Quốc gia Hồng Kông’ nữa. Đồng thời Giáo sư Chương còn muốn giảng một chút về bối cảnh của ‘Luật An ninh Quốc gia Hồng Kông’.

Bối cảnh của sự kiện này nếu chúng ta truy ra sẽ là thời điểm cuộc Chiến tranh Nha phiến năm 1840. Triều đình nhà Thanh sau khi thất bại trong cuộc chiến, Trung Quốc và Anh Quốc đã ký ‘Hiệp ước Nam Kinh’, trong đó có một điều khoản cắt nhượng Hồng Kông. Nhưng Hồng Kông thời điểm đó không phải chỉ Hồng Kông bây giờ, mà là chỉ đảo Hồng Kông. Còn Hồng Kông mà chúng ta thường biết bao gồm 3 bộ phận là Hồng Kông, Cửu Long và Tân Giới. 3 bộ phận đó chính là kết quả của việc cắt nhượng và tô giới (phần đất quốc gia bị nước khác quản lý). 

Bản đồ Hồng Kông năm 1900. Ngoại trừ 2 phần đỏ là Cửu Long và đảo Hồng Kông, thì phân khoanh đỏ còn lại là Tân Giới. Ảnh chụp sách ‘Trung Hoa văn minh sử’ quyển hạ.

Lần thứ nhất là vào năm 1842 khi ký ‘Hiệp ước Nam Kinh’ cắt nhượng đảo Hồng Kông. Lần thứ hai là sau Chiến tranh Nha phiến lần hai vào năm 1860 thì Trung Quốc ký ‘Hiệp ước Bắc Kinh’ với các cường quốc, cắt nhượng Cửu Long (phần phía bắc của đảo Hồng Kông) cho Anh Quốc. Vì vậy đảo Hồng Kông và Cửu Long đã cắt nhượng cho Anh Quốc.

Lần thứ ba là ‘Điều ước tô giới’ (Hiệp ước cho thuê đất). Năm 1894 xảy ra Chiến tranh Giáp Ngọ giữa Trung Quốc và Nhật Bản, triều đình nhà Thanh thất bại. Năm 1895, Trung Quốc ký với Nhật Bản ‘Hiệp ước Mã Quan’, Trung Quốc không chỉ từ bỏ quyền ‘mẫu quốc’ đối với Triều Tiên, mà còn cắt nhượng bán đảo Liêu Đông cho Nhật Bản. Nhưng các cường quốc châu Âu thấy rằng thế lực của Nhật Bản tại Trung Quốc quá lớn; nên khi đó Đức, Pháp, Nga cùng nhau khuyên Nhật Bản đừng chiếm bán đảo Liêu Đông, cuối cùng Nhật Bản đành phải đồng ý.

Đại Thanh vì muốn cảm tạ ơn hoà giải trung gian của Đức, Pháp, Nga nên đã ký với họ một số hiệp ước coi như thù lao.

Khi đó Trung Quốc cho Nga mượn Lữ Thuận và Đại Liên, đây là lần đầu tiên Nga được một cảng không đóng băng ở vùng viễn đông. Theo truyền thống của nước Nga, họ không có cửa ra biển ở châu Á. Cửa ra biển của họ đều ở Biển Đen, từ Biển Đen còn phải đi một đoạn qua Địa Trung Hải, sau đó phải đi qua eo biển Gibraltar mới đến được Đại Tây Dương; cho nên việc ra biển từ phía tây khá tốn sức. Nếu Nga có một cảng không đóng băng ở vùng Viễn Đông, thì có thể trực tiếp ra Thái Bình Dương, như thế Nga mới thuê Lữ Thuận và Đại Liên.

Pháp thì thuê Vịnh Quảng Châu. Dưới tình huống như vậy, Anh Quốc cảm thấy Pháp thuê được Vịnh Quảng Châu quá gần Hồng Kông nên cảm thấy bị uy hiếp. Thế là Anh Quốc đề xuất với triều đình nhà Thanh cho thuê Tân Giới. 

Năm 1898, hai bên đã ký một hiệp ước, Trung Quốc cho Anh Quốc thuê Tân Giới trong vòng 99 năm; như thế 1898 cộng 99 bằng 1997. Đây là lý do vì sao vào năm 1997, ĐCSTQ nói phải khôi phục chủ quyền đối với Hồng Kông vì ‘Điều ước tô giới’ (Hiệp ước cho thuê đất) đã đến hạn.

Nhưng trên thực tế từ sau Chiến tranh Nha phiến 1840, Anh Quốc vẫn luôn chiếm lĩnh đảo Hồng Kông, sau đó rất nhanh lại chiếm được Cửu Long, đến lần thứ ba (năm 1898) lại thuê được Tân Giới 99 năm. Vì vậy cả 3 vùng là: đảo Hồng Kông, Cửu Long và Tân Giới chịu sự cai quản của Anh Quốc khoảng 100-150 năm. Đương nhiên ở trung gian có 3 năm 8 tháng bị Nhật Bản chiếm đóng trong Thế chiến 2, nhưng toàn bộ hệ thống pháp luật và chính trị của toàn Hồng Kông đều thuộc về hệ thống của Anh Quốc. Cũng chính là nói Hồng Kông được hưởng tự do ngôn luận, tư pháp độc lập… như một quốc gia dân chủ.

Anh Quốc khi hoàn trả lại Tân Giới không muốn ‘người Hồng Kông sống dưới nền chính trị Anh Quốc’ mất đi những quyền lợi ấy, thế là họ đàm phán với ĐCSTQ. 

Khi đó Đặng Tiểu Bình cũng muốn thu hồi lại Hồng Kông để làm di sản chính trị và phong công vĩ nghiệp to lớn trong lịch sử. Vì thế hai bên đã tiến thêm một bước. Anh Quốc không chỉ trả lại Tân Giới, mà còn trả cả đảo Hồng Kông và Cửu Long về tay ĐCSTQ. ĐCSTQ hứa sẽ thực hành ‘một quốc gia, hai chế độ’ (Nhất quốc lưỡng chế – 一國兩制). Cái gọi là ‘một quốc gia, hai chế độ’ chính là Trung Quốc Đại lục thực hành chế độ xã hội chủ nghĩa, còn Hồng Kông thi hành chế độ tư bản chủ nghĩa.

Năm 1984, Thủ tướng Trung Quốc khi đó là Triệu Tử Dương đã ký với Thủ tướng Anh là Phu nhân Thatcher ‘Tuyên bố chung Trung – Anh’. Trong tuyên bố quy định: Hồng Kông ngoài ngoại giao và quân sự, thì hết thảy sự việc đều do Hồng Kông quyết định. Cho nên chúng ta thấy rằng Hồng Kông thậm chí có tiền tệ riêng là đô-la Hồng Kông. 

Trong Tuyên bố chung Trung – Anh còn đề xuất minh xác rằng: “Người Hồng Kông cai trị Hồng Kông” (Cảng nhân trị Cảng – 港人治港). “Cảng nhân trị Cảng” không có ý chỉ Đặc khu trưởng nhất định là người Hồng Kông, mà vấn đề trị lý Hồng Kông nên do người Hồng Kông quyết định; đây mới là ý nghĩa thật sự của “Cảng nhân trị Cảng”, cũng là cơ sở pháp lý của chế độ dân chủ Hồng Kông.

Năm 1997, sau khi Hồng Kông trở lại Đại lục, ĐCSTQ ban đầu vẫn không cảm nhận được uy hiếp lớn như thế. ĐCSTQ chủ yếu muốn giữ lại chế độ của Hồng Kông, để làm hình mẫu cho Đài Loan, kiểu như ‘Hồng Kông về rồi, phương thức sinh sống cũng không có gì thay đổi; một quốc gia, hai chế độ thật sự thành công’ v.v. Đây là tính toán của ĐCSTQ vào thời điểm ấy.

Nhưng trên thực tế, ĐCSTQ là chính phủ của chủ nghĩa cực quyền, nó không thể cho phép người dân hưởng tự do; bởi vì hễ người dân hưởng tự do thì chính là hình mẫu để người dân Đại lục ao ước bầu cử, tự do ngôn luận, tư pháp độc lập v.v. như ở Hồng Kông. Do đó rất nhiều người bất mãn với ĐCSTQ sẽ lấy Hồng Kông làm căn cứ địa, tuyên truyền những tư tưởng không có lợi đối với ĐCSTQ. 

Còn những người bị ĐCSTQ bức hại cũng đem những bức hại họ phải chịu nhận để tiết lộ cho thế giới. Đặc biệt là vào năm 1999, ĐCSTQ bắt đầu trấn áp Pháp Luân Công, các học viên Pháp Luân Công đã phát rất nhiều tài liệu vạch trần bản chất tà ác của ĐCSTQ; gồm cả việc ĐCSTQ làm thế nào biên tạo lừa dối, tuyên truyền sai lệch để gán cho Pháp Luân Công là tà đạo, vụ tự thiêu ở Thiên An Môn v.v.; đồng thời cũng khuyên người ta thoái xuất khỏi ĐCSTQ và các tổ chức liên đới của nó.

Thời điểm đó ĐCSTQ lấy viện trợ kinh tế cho Hồng Kông, đã làm cái gọi là ‘tự do đi lại’, dẫn đến một lượng lớn người từ Đại lục khi đến Hồng Kông đã thấy được tài liệu chân tướng của Pháp Luân Công. ĐCSTQ cho rằng Hồng Kông có thể sẽ thành căn cứ địa để lật đổ mình, thế là năm 2003, ĐCSTQ muốn thông qua một bộ pháp luật tại Hồng Kông để cấm chỉ những tổ chức không ưa thích mình.

Điều luật 23: ĐCSTQ bắt đầu chế định ‘ác pháp’…

Trước khi Hồng Kông về Trung Quốc Đại lục, đã thành lập Uỷ ban soạn thảo Luật Cơ bản để soạn thảo Luật Cơ bản Hồng Kông – tương đương với ‘Hiến pháp nhỏ’ của Hồng Kông sau khi được trao trả. Điều 23 trong ‘Luật Cơ bản Hồng Kông’ tương đương với các điều lệ (quy định) về an ninh quốc gia, tránh cho Hồng Kông trở thành căn cứ địa lật đổ ĐCSTQ ở Đại lục. 

Nhưng điều luật này lại không có bất cứ quy định cụ thể nào. ĐCSTQ bèn quy định chi tiết điều luật 23 rằng: Phàm là chống ĐCSTQ, cảnh sát Hồng Kông có thể vào nhà khám xét, bắt giữ, phán xét… ĐCSTQ muốn thông qua ‘ác pháp’ như thế này để áp chế tiếng nói phản đối ĐCSTQ ở Hồng Kông.

Năm 2003, Bộ trưởng An ninh Hồng Kông là bà Diệp Lưu Thục Nghi thúc đẩy lập pháp cho Điều luật 23. Kết quả vào ngày 1/7/2003, 500 nghìn người Hồng Kông xuống đường tuần hành. Ý dân hùng dũng, họ kiên quyết phản đối Điều luật 23. Khi ấy chủ tịch của Đảng Tự do là Điền Bắc Tuấn tuyên bố đảng này không ủng hộ Điều luật 23, bằng cách này Điều luật 23 không có đủ số phiếu trong Hội đồng Lập pháp, do đó luật được gác lại. Nhưng ĐCSTQ vẫn canh cánh trong lòng, nhất định phải thông qua pháp luật như thế, nếu không sẽ là uy hiếp cực lớn đối với tổ chức này.

Trên thực tế vào ngày 30/6/2020, ĐCSTQ đã thông qua được ‘Luật An ninh Quốc gia Hồng Kông’ mang tính chất của Điều luật 23 nhưng cực đoan hơn, không chỉ trấn áp tiếng nói của người dân Hồng Kông, mà còn ‘bịt miệng’ được người dân thế giới. Rốt cuộc ĐCSTQ đã làm như thế nào và quá trình trung gian để đi đến luật này ra sao, kính mời quý độc giả đón xem phần tiếp theo.

Mạn Vũ

Chú thích: Link Trung Hoa văn minh sử tập 38.