Giang Thanh mở phong bì ra, vừa nhìn qua một lúc, bà ta liền thất sắc, sốc và ngất đi…

>> Xem trọn bộ Trăm năm chân tướng

Xin chào quý vị khán giả! Chào mừng quý vị đến với chuyên mục “Trăm năm chân tướng”! 

Cuối tháng 3 và đầu tháng 4 năm 1959, Giang Thanh, vợ của Mao Trạch Đông – lãnh tụ ĐCSTQ, bất ngờ nhận được hai bức thư nặc danh tại khách sạn Cẩm Giang ở Thượng Hải. Hai bức thư này không chỉ lật tẩy “chiếc lọ ngũ vị” của Giang Thanh, mà còn kinh động nhiều nhân vật tối cao tầng của ĐCSTQ, dẫn khởi một vụ án chính trị lớn, và dẫn đến một câu chuyện mà rất nhiều người không ngờ tới.

Hai bức thư nặc danh rốt cuộc là chuyện gì? Hôm nay, chúng tôi chủ yếu dựa trên báo cáo “Bức thư nặc danh khiến Giang Thanh kinh tâm động phách” ngày 19/2/2001 của tờ “Pháp Chế Văn Tụy báo”, còn có tư liệu từ Doãn Thự Sinh, cựu Sở phó thường vụ Sở Công an tỉnh An Huy, phát hiện trên tạp chí “Viêm Hoàng xuân thu”, số đầu tiên của tạp chí năm 2015 mang tên “Tại sao Giang Thanh oán hận cơ quan công an?”, chúng tôi sẽ kể mọi người nghe về nó.

Lá thư nặc danh đầu tiên

Vào trưa ngày 26/3/1959, Giang Thanh đang chơi đàn nhị trong một căn phòng của khách sạn Cẩm Giang ở Thượng Hải, tự chơi tự thưởng. Lúc này, Hác Đức Quang, chủ nhiệm văn phòng khách sạn, đã chuyển cho bà ta một bức thư. Sau khi Hác Đức Quang rời đi, Giang Thanh mở phong bì ra, vừa nhìn qua một lúc, bà ta liền thất sắc, sốc và ngất đi. Hóa ra, đây là một bức thư nặc danh, tiết lộ những người tình cũ của Giang Thanh ở Thượng Hải những năm 1930.

Đêm đó, Khương Sinh – khi đó là ủy viên dự khuyết của Cục Chính trị ĐCSTQ, đã đến thăm hỏi. Quan hệ của ông ta với Giang Thanh rất đặc biệt. Giang Thanh lấy bức thư ra, Khương Sinh đã trở nên không còn bình tĩnh khi đọc nó, ông ta hét lên: “Thật không thể tin được, đây là muốn khơi lên một vụ án chính trị lớn. Hãy gọi cho La Thụy Khanh, Bộ Công an nên hỏa tốc điều tra, bảo ông ta lập tức bố trí.”

Vào tối ngày 29/3, Chu Ân Lai đã bay đến Thượng Hải để chuẩn bị những bước cuối cùng cho Phiên họp toàn thể lần thứ bảy sắp tới của Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ. Giang Thanh và Khương Sinh đã nói với ông ta về “Sự kiện lá thư nặc danh”. Vào lúc 10 giờ đêm hôm đó, Chu Ân Lai triệu Bộ trưởng Công an La Thụy Thanh đến phòng của mình, hạn cho ông ta nội trong 10 ngày phá án. Ngày hôm sau, Tống Thiêm Phúc, một chuyên gia điều tra hình sự của Bộ Công an, đã bay đến Thượng Hải cùng với hai cao thủ phá án.

Do sự việc phát sinh ở Thượng Hải, Chu Ân Lai cũng đã thông tri cho Kha Khánh Thi, bí thư Thành ủy Thượng Hải, yêu cầu ông ta cử nhân viên công an Thượng Hải hiệp trợ phá án. Kha Khánh Thi ngay lập tức bố trí Hoàng Xích Ba, Giám đốc Sở Công an Thượng Hải, tham gia trận chiến, đồng thời cử gần 20 điều tra viên tội phạm từ hệ thống an ninh công cộng Thượng Hải tham gia vào tổ chuyên án.

Tuy nhiên, tổ chuyên án đã vấp phải một khó khăn ngay từ đầu: Giang Thanh sống chết nhất định không giao “bức thư nặc danh”, và chỉ đưa cho họ cái phong bì. Không cách nào khác, các điều tra viên phải bắt đầu từ phong bì, điều tra người gửi và người nhận.

Lá thư nặc danh thứ hai

Đúng lúc các nhân viên ban chuyên án còn đang lúng túng, thì 3 giờ chiều ngày 1/4/1959, khi Giang Thanh vừa rời khách sạn để đi đón Mao Trạch Đông ở sân bay, khách sạn Cẩm Giang nhận được một bưu kiện thứ hai. Một trong những phong bì ghi: “Đồng chí có trách nhiệm ở khách sạn nhận”, cũng hệt như bên ngoài phong bì của bức thư nặc danh đầu tiên.

Bức thư này ngay lập tức dẫn khởi cảnh giác của các nhân viên cảnh vệ của Thị ủy Thượng Hải được phái trú trong khách sạn. Họ gọi cho Nhà máy Phụ kiện Máy móc Tàu thủy Bắc Kinh theo địa chỉ gửi thư trên phong bì, đầu dây bên kia trả lời rằng chúng tôi chưa hề gửi thư đến Thượng Hải. Sau khi lá thư được chuyển cho tổ chuyên án, các nhân viên điều tra mở phong bì bên ngoài và thấy bên trong có một phong thư ghi “Đồng chí Giang Thanh nhận”. Các nhân viên điều tra không dám mở ra khi chưa được phép, họ chỉ có thể chuyển giao nó cho Giang Thanh. Kết quả chứng thực rằng, nội dung tương tự như bức thư đầu tiên.

Vì lá thư nặc danh thứ hai được gửi từ Bắc Kinh, nên lực lượng đặc nhiệm lập tức quyết định phái 10 trinh sát viên đến Bắc Kinh để điều tra. Bộ Công an trước sau đã xác định được 2 nghi can. Một trong số họ, sau khi giám định, không khớp với bút tích của ông ta; nghi phạm còn lại, Tăng Vi Xuyên, đã bị Bộ trưởng Bộ Công an La Thụy Khanh đích thân phủ định. Hóa ra, người này là một đảng viên bí mật mà cực ít người ở cấp cao nhất của ĐCSTQ biết, người này đã công tác bí mật ở Thượng Hải vào đầu những năm 1930.

Lúc này, các manh mối của cuộc điều tra lại bị gián đoạn.

Khi tổ chuyên án tổ chức một cuộc họp phân tích tình tiết vụ án, có người đề xuất tìm hiểu nội dung của bức thư nặc danh để có được manh mối. Kha Khánh Thi, bí thư thành ủy Thượng Hải, không dám yêu cầu Giang Thanh cho xem thư, vì vậy La Thụy Khanh phải tìm đến Giang Thanh, nhưng bị Giang Thanh cự tuyệt hoàn toàn. La Thụy Khanh không còn cách nào, phải đi tìm Chu Ân Lai. Chu Ân Lai đích thân đến gặp Giang Thanh, và cuối cùng đã nhận được hai bức thư nặc danh.

Máy đánh chữ “Bảo Thạch Bài”

Hai bức thư nặc danh hoàn toàn giống nhau, các ký tự đều được đánh máy bằng máy đánh chữ, chúng nói về việc Giang Thanh quan hệ nam nữ loạn cảo khi bà ta còn là một diễn viên ở Thượng Hải vào những năm 1930. Cụ thể bức thư đã viết gì? Bức thư liệt kê danh tính, nghề nghiệp và địa chỉ của những người đàn ông mà Giang Thanh đã từng cùng giao vãng vào thời điểm đó, thậm chí mô tả những hành vi biến thái khác nhau mà Giang Thanh đã làm với một số người đàn ông. Cuối thư còn phê bình Giang Thanh bằng những lời lẽ cay độc.

Các chuyên gia giám định kết luận rằng hai bức thư được đánh bằng máy đánh chữ hiệu “Bảo Thạch Bài”, đã được sử dụng trên 10 năm.

Theo khảo sát, có 81 máy đánh chữ “Bảo Thạch Bài” ở Thượng Hải, được phân phối tại 81 đơn vị ở 10 quận. Do đó, các điều tra viên đã lần lượt đến thăm 81 đơn vị này, lấy các ký tự của từng máy đánh chữ và hàng chục kiểu chữ thường dùng, xác định và phân tích từng kiểu chữ một, và đặc biệt mời một kỹ thuật viên cao cấp từ Nhà máy Khuôn mẫu Thượng Hải đến hỗ trợ giám định kỹ thuật. Cuối cùng, những nghi ngờ tập trung vào Thang Phái Tinh, một nhân viên công tác trong phòng tư liệu của Xưởng phim Hải Yến, Thượng Hải.

Sáng ngày 12 tháng 4, ba điều tra viên đến Xưởng phim Hải Yến để tiến hành một cuộc điều tra bí mật, họ được biết vào những năm 1930, Thang Phái Tinh và Giang Thanh cùng công tác tại “Công ty Điện ảnh Thông Nghiệp” và hai người đã biết nhau rất rõ. Hồ sơ của Thang Phái Tinh cho thấy, bà ấy có một người anh họ đã tự sát, và người anh họ của bà là một trong những người đàn ông được đề cập trong bức thư nặc danh có quan hệ không chính đáng với Giang Thanh. Anh họ của Thang Phái Tinh đã tự sát vì điều này. Sau khi nắm được thông tin này, đội đặc nhiệm quyết định lập tức tiến hành theo dõi bí mật Thang Phái Tinh, thu thập chứng cứ, chuẩn bị truy bắt.

Ai ngờ, ngay sau khi phương án này được phê chuẩn, đột nhiên có một tin tức truyền đến: Thang Phái Tinh đã tái phát bệnh tâm thần, đập phá không ít dụng cụ văn phòng, trong đó có “Máy đánh chữ Bảo Thạch Bài”, và đã bị đưa vào bệnh viện tâm thần. Một người nào đó trong tổ chuyên án nghi ngờ rằng bà ấy đang giả bệnh, vì vậy đã bí mật đột nhập vào viện, với sự phối hợp của các chuyên gia y tế, tiến hành thẩm vấn Thang Phái Tinh trong trạng thái thôi miên. Tuy nhiên, vụ án không có nhiều tiến triển đáng kể. Ngay khi tổ chuyên án đang định tiếp xúc chính diện với Thang Phái Tinh, bà ấy đã tử vong trong một vụ tai nạn xe hơi khi đang trốn khỏi bệnh viện.

Cuối cùng, các chuyên gia đã tiến hành thẩm định kỹ thuật chiếc máy đánh chữ mà Thang Phái Tinh sử dụng, và kết luận đây không phải là chiếc máy đánh chữ dùng để viết thư nặc danh.

Chất keo màu xanh cỏ

Nửa đêm ngày 16/4, lực lượng làm nhiệm vụ tình cờ phát hiện ra chất keo kết dính của tờ giấy viết thư nặc danh có màu xanh cỏ. Họ đã điều tra và biết được rằng chỉ có “Văn phòng 1287”, một bộ phận tình báo của Bộ Tư lệnh Hải quân Hạm đội Đông Hải sử dụng.

Tổ chuyên án lập tức điều duyệt hồ sơ của toàn thể nhân viên của “Văn phòng 1287”, cuối cùng mục tiêu được nhắm vào là Trung úy Kim Bá Lân.

Kim Bá Lân, 28 tuổi, quê ở Tô Châu, đã kết hôn, sinh ra trong một gia đình “liệt sĩ cách mạng”, cả bố và mẹ đều là đảng viên ngầm của ĐCSTQ. Năm 6 tuổi, cha mẹ Kim bị bắt và xử tử vì tội “phản bội”. Kim Bá Lân được người dì Sử Văn Huệ thụ dưỡng, và sống ở Tô Châu trong một thời gian dài. Sử Văn Huệ vốn là diễn viên ở Thượng Hải, biết rõ Giang Thanh và lịch sử đen tối của bà ta. Lúc bình thường, bà ấy cũng thảo luận về những chuyện bại hoại của Giang Thanh với Kim Bá Lân, điều này sản sinh ảnh hưởng đối với Kim Bá Lân.

Năm 1953, Kim Bá Lân nhập ngũ và phục vụ trong Hạm đội Đông Hải. Trong phòng làm việc của Kim, có một chiếc máy đánh chữ “Bảo Thạch Bài”.

Tổ chuyên án đã giám định chiếc máy đánh chữ, và xác nhận rằng cả hai bức thư nặc danh đều đến từ chiếc máy đánh chữ này. Sau đó, họ so sánh bức thư nặc danh gốc và văn phòng phẩm của “Văn phòng 1287” để so sánh và xác định các chất hóa học trong tờ giấy, kết quả hoàn toàn giống nhau.

Ngày 21/4/1959, Kim Bá Lân bị bắt. Trong cuộc thẩm tra, Kim vui vẻ thừa nhận rằng mình đã viết bức thư nặc danh. Kim nói rằng khi Giang Thanh nhận phòng tại khách sạn Cẩm Giang, Kim đã tình cờ đi ngang qua đó và nhận ra Giang Thanh trong nháy mắt. Sau khi trở lại văn phòng vào ngày hôm đó, Kim đã đánh máy hai bức thư bằng máy đánh chữ, một bức được gửi từ Thượng Hải và bức còn lại từ Bắc Kinh khi Kim đi công tác. Mục đích của việc Kim viết hai bức thư nặc danh này là để vạch trần những tai tiếng của Giang Thanh hồi đó, khiến bà ta nhục nhã.

Cuối cùng, tòa án quân sự đã tuyên phạt Kim Bá Lân 3 năm tù giam vì tội “tiết lộ bí mật”. Người ta nói rằng vào thời điểm đó, một vị tướng lĩnh quân đội cấp cao đã tuyên bố rằng Kim Bá Lân là con của một “liệt sĩ cách mạng”, cần được xử lý khoan hồng. Kết quả là sau đó, Kim chỉ bị áp giải đến nông trường cải tạo Đại Đông Bắc.

Tất cả các nhân viên chuyên án đều bị “chỉnh nhân” trong Cách mạng Văn hóa

Vụ việc của hai bức thư nặc danh cuối cùng đã được giải quyết. Tuy nhiên, vấn đề này chưa đi đến kết thúc. Mười năm trước Cách mạng Văn hóa, Giang Thanh dù ngoài mặt biểu hiện khách khí với những nhân viên công an tham dự phá án, mục đích đương nhiên là hy vọng họ đối đãi tốt đẹp với bà ta, giữ bí mật cho bà ta; Sau khi Cách mạng Văn hóa bùng nổ, quyền lực của Giang Thanh đạt đến đỉnh cao, bà ta liền lộ nguyên hình, bắt những nhân viên tham dự phá án tống vào giam ngục.

Vào tối ngày 3/1/1978, 25 cục trưởng cục công an và cảnh sát trưởng từ Bắc Kinh, Thượng Hải và những nơi khác từng bị bắt giam trong Cách mạng Văn hóa, đã tổ chức một hội nghị tọa đàm. Một số người đã nhiều lần nghẹn ngào trong bài phát biểu của họ, trong khi những người khác đã bật khóc thành tiếng. Một trong số họ ngất xỉu vì bị kích động, huyết áp dâng cao, và phải tức tốc đưa tới bệnh viện để cứu trị. Một vị cục trưởng cho biết, “Tôi đã tiếp xúc với Giang Thanh 15 lần, mỗi lần đều tận tâm tận lực phục vụ cô ấy, nhưng ngay sau khi Cách mạng Văn hóa bắt đầu, Giang Thanh đã điểm danh tôi, áp giải tôi đến Bắc Kinh, nơi tôi bị giam bảy năm rưỡi.”

Một vị cục trưởng khác nói: “Tôi biết khá rõ lịch sử của Giang Thanh vào những năm 1930. Khi đó, bà ta là một nữ diễn viên ở Thượng Hải, sống chung với mấy người đàn ông, gây ra rất nhiều tai tiếng. Đặc biệt là, năm 1936, vừa kết hôn với Đường Nạp không lâu đã gây náo loạn, sống chung cùng người đàn ông khác, dẫn đến việc Đường Nạp hai lần nỗ lực tự sát ở Tế Nam và Thượng Hải, mưa gió náo loạn cả thành phố. Có một thời gian, nó đã trở thành vụ bê bối lớn nhất ở Thượng Hải. Năm 1967, Giang Thanh nói rằng tôi đã ‘chỉnh’ tài liệu đen của bà ta, bắt giam tôi 10 năm.”

Hoàng Xích Ba, Sở trưởng Sở Công an Thượng Hải, người tham gia điều tra vụ án, bị áp giải đến Bắc Kinh vào tháng 2 năm 1968, bị giam ngục 8 năm. Trong thời gian này, mười chiếc xương sườn của ông đã bị đánh gãy, ông qua đời năm 1978.

Theo “Trăm năm chân tướng” của Epoch Times
Mộc Lan biên dịch