Tại sao bài thơ “Tặng Uông Luân” với ý nghĩa dễ hiểu như vậy lại có thể trở thành tác phẩm tiêu biểu của Lý Bạch? Nó hay ở chỗ nào?

Trong văn hóa truyền thống, “bạn bè” được liệt vào một trong số “ngũ luân”. Ngày nay mọi người cũng thường nói “ngàn vàng dễ có, tri kỷ khó tìm”, bạn bè thật sự có thể bầu bạn với nhau trọn đời, có thể nâng đỡ nhau trong lúc hoạn nạn, chia sẻ niềm vui trong cuộc sống – nếu như có thể quen biết được một người bạn như thế, quả là điều đáng mừng.

Khúc ‘đạp ca’ tiễn chân Lý Bạch

Vào những ngày đặc biệt hoặc những trường hợp quan trọng, chúng ta đều thích tặng quà cho bạn bè để bày tỏ lời chúc phúc. Người xưa trọng tình trọng nghĩa, cũng thường hay tặng quà cho nhau, hơn nữa quà của họ rất mới mẻ và tinh tế, thậm chí còn trở thành giai thoại lưu truyền ngàn năm. Ví dụ, vào một ngày nọ trong thời nhà Đường… có một chiếc thuyền nhỏ đang đậu bên cạnh đầm nước ở ngoại thành, một người đàn ông trung niên tuấn tú phong độ bước lên chiếc thuyền nhỏ chuẩn bị khởi hành đi xa. Bỗng nhiên, một giọng hát trong trẻo du dương từ xa vọng lại, từ trên bờ vọng xuống. Người đàn ông lập tức cho thuyền dừng lại, nhìn về phía truyền ra giọng hát, thì ra là người bạn của ông đang dẫm chân theo nhịp, vừa nhảy múa vừa ca hát, để tặng cho ông một khúc ca dao tiễn biệt.

Ảnh chụp từ video.

Người đàn ông nhìn về đầm nước phía xa mà không ngừng cảm thán: Đầm nước này dù có sâu ngàn thước đi nữa, cũng làm sao sánh được tình bạn mà bằng hữu dành cho ta chứ?

Thế là, ông nổi hứng làm thơ, ngâm một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt để đáp trả.

Bài tứ tuyệt dành tặng Uông Luân

Khoảnh khắc tiễn người đi xa này trở thành một hình ảnh kinh điển về tiễn biệt trong văn hóa truyền thống, và là bằng chứng cho tình bạn đẹp của người xưa. Tác phẩm tứ tuyệt đó cũng vì vậy mà trở thành bài thơ nổi tiếng được hậu thế tranh nhau truyền tụng, đây chính là thi phẩm “Tặng Uông Luân” được sáng tác bởi Thi Tiên Lý Bạch.

“Lý Bạch thừa chu tương dục hành,
Hốt văn ngạn thượng đạp ca thanh.
Đào Hoa đàm thủy thâm thiên xích,
Bất cập Uông Luân tống ngã tình”.

Dịch thơ:

Lý Bạch ngồi thuyền sắp rời xa,
Bỗng nghe trên bờ tiếng ‘đạp ca’.
Đào Hoa – đầm ấy sâu ngàn thước,
Không bằng Uông Luân đưa tiễn ta.
[Tham khảo bản dịch của Vô danh cư sỹ].

Thời Đường xuất hiện rất nhiều thi nhân, từ “Tứ kiệt” trong giai đoạn Sơ Đường cho đến các nhà thơ phong cảnh thời Thịnh Đường, rồi đến Hàn, Liễu, Nguyên, Bạch thời Trung Đường và Tiểu, Lý, Đỗ thời Vãn Đường, họ làm nổi bật cảnh giới xuất thần nhập hóa trong thi ca. Trong số đó, Lý Bạch giống như hàng ngàn ngôi sao làm nổi bật ánh trăng vậy. Ông là một nhà thơ hiếm có trong lịch sử có sở trưởng về thơ cổ phong, tuyệt cú, Đường luật, thể từ… và đạt được trình độ cao nhất. Phong cách thơ của Lý Bạch rất đa dạng, hùng vĩ và phóng khoáng, vừa mới mẻ thanh tao, vừa có sức mạnh gây xúc động của “bút lạc kinh phong vũ, thi thành khấp quỷ thần”, các thi phẩm của ông đã góp phần đưa thơ ca truyền thống của Trung Quốc lên một đỉnh cao mới.

 “Tặng Uông Luân” mà chúng ta bình phẩm hôm nay chính là một bài thơ được lưu truyền rộng rãi của Lý Bạch. Tôi tin rằng các bạn đã thuộc lòng rất nhiều bài thơ của Lý Bạch, nhưng có người sẽ thắc mắc: Tại sao bài thơ “Tặng Uông Luân” với ý nghĩa dễ hiểu như vậy lại có thể trở thành tác phẩm tiêu biểu của Lý Bạch? Nó hay ở chỗ nào? Lẽ nào chỉ vì bài thơ này đọc lên rất trôi chảy mà trở thành một thi phẩm kinh điển sao?

Đúng vậy, bài thơ “Tặng Uông Luân” không quá khó hiểu về mặt ý nghĩa, toàn bộ thi phẩm không có một chữ nào hiếm lạ, cũng không dùng một điển tích nào cả, nó rõ ràng và dễ hiểu giống như một bài dân ca vậy, nhưng cũng chính vì như vậy mà thi phẩm này ẩn chứa sự “tự nhiên” khó có được nhất trong tác phẩm nghệ thuật, nghĩa là dùng ngôn từ đơn giản nhất để diễn đạt tình cảm chân thật nhất, và sáng tác ra bài thơ đẹp nhất. Đây chính là bút pháp của nhà thơ vĩ đại. Lý Bạch còn có một câu thơ rất nổi tiếng: “thanh thủy xuất phù dung, thiên nhân khứ điêu sức”. Thi sĩ Nguyên Hiếu Vấn của nhà Kim cũng từng nói rằng “nhất ngữ thiên nhiên vạn cổ tân, hào hoa lạc tận kiến chân thuần”, đều là nói về ý nghĩa này: Lý Bạch sáng tác thơ, chú trọng nhất là thuần chân, thuần mỹ, tự nhiên, không thích chạm khắc, cho nên mới sáng tác ra một tuyệt tác chân chất không xa hoa mà lại vô cùng tự nhiên như thi phẩm “Tặng Uông Luân” này.

Nếu như bình phẩm một cách tỉ mỉ, chúng ta cũng sẽ cảm nhận được điều tuyệt diệu trong lời thơ. Bài thơ này chia ra làm hai phần. Hai câu đầu là phần tả cảnh, miêu tả về cảnh tượng tiễn biệt, Lý Bạch ngồi thuyền sắp rời đi, câu đầu dùng ngôn ngữ trực tiếp và đơn giản để đi vào chủ đề chính, miêu tả hình ảnh nhà thơ ở bên đầm Đào Hoa sắp sửa ngồi thuyền đi xa, một từ “tương” nói rõ trạng thái của nhà thơ ngồi trên thuyền muốn đi nhưng chưa đi, đang chờ xuất phát. Câu này trở thành cơ sở cho sự phát triển của tình tiết tiếp theo. “Hốt văn ngạn thưởng đạp ca thanh”, miêu tả cảnh tượng người bạn tiễn biệt mình.

Ảnh chụp từ video.

Câu này không giống câu đầu tiên, đầu tiên là nhà thơ nghe thấy tiếng dẫm chân ca hát, sau đó mới dẫn dụ ra hình ảnh Uông Luân đang tiễn biệt, “hốt văn” (bỗng nghe) chứng tỏ sự xuất hiện của Uông Luân là nằm ngoài dự đoán của nhà thơ, diễn đạt tâm tình bất ngờ một cách hàm xúc, “đạp ca” là một hình thức múa hát truyền thống vừa dẫm chân theo nhịp vừa hát. Bên cạnh đó, câu thơ này cũng thể hiện được trình độ nghệ thuật và tính cách tự do phóng khoáng, không bị gò bó bởi lễ nghi phàm tục của Uông Luân, chẳng trách ông ta lại có thể trở thành người bạn tốt của Lý Bạch.

Tiếp theo, theo tư duy thông thường sẽ là miêu tả về người bạn đưa tiễn mình, nhưng nhà thơ xoay bút một cái liền đi vào phần trữ tình.

“Đào Hoa đàm thủy thâm thiên xích”, lúc này nhà thơ mới nói cho người đọc biết, thì ra nơi  mà họ chia tay nhau chính là ở bên bờ đầm Đào Hoa, sâu ngàn thước, thi nhân dùng thủ pháp phóng đại để nói lên độ sâu của đầm nước, phong cảnh độc đáo cũng chạm vào suy tưởng của nhà thơ, vì thế mà câu thơ cuối được tuôn ra rất đỗi tự nhiên: “Bất cập Uông Luân tống ngã tình”, đến đây Uông Luân mới lộ diện một cách long trọng, càng làm nổi bật tình cảm sâu đậm của ông khi tiễn biệt bằng hữu, cho dù là đầm nước sâu ngàn thước cũng không thể sánh bằng thịnh tình tống biệt của Uông Luân. Nhưng Uông Luân rốt cuộc là một người như thế nào? Lý Bạch và Uông Luân gặp mặt đã nói những gì? có hẹn lần sau gặp lại hay không? những điều này đều được ẩn giấu bên ngoài lời thơ, tạo nên vô số giả thiết của người đọc.

Thủ pháp phóng đại thường được Lý Bạch sử dụng trong sáng tác thơ, có thể tạo dựng được khí thế hùng vĩ to lớn, và thể hiện được phong cách thơ bay bổng của ông. Hai câu thơ cuối còn sử dụng nghệ thuật so sánh, dùng đầm nước hữu hình để so sánh với tình cảm vô hình, những sự vật vô hình là khó diễn đạt nhất. Tiếng tỳ bà trong “Tỳ Bà Hành”, tiếng hạc cầm trong “Lý Bằng không hầu dẫn” đều là những miêu tả kinh điển trong thi ca truyền thống, nhưng bài thơ này của Lý Bạch chỉ dùng hai câu thơ để diễn đạt, mà còn là sử dụng luôn cảnh vật xung quanh làm chất liệu, nhưng hình tượng lại vô cùng thích hợp, Thi Tiên Lý Bạch đúng là cao thủ dùng ngôn ngữ tự nhiên để viết thơ.

Cuộc đời Lý Bạch giao du rộng rãi, đi khắp sông núi Bắc Nam, bài thơ “Tặng Uông Luân” này được viết vào năm Thiên Bảo thứ 14 tức là vào năm 755, là tác phẩm được sáng tác khi Lý Bạch đi ngao du tại đầm Đào Hoa ở huyện Kính. Con người của Lý Bạch hào phóng và cởi mở, thích kết giao bạn bè, ông cũng từng sáng tác thơ tặng cho rất nhiều người, nhưng phần lớn đều là những thi sĩ nổi tiếng trong lịch sử, ví dụ như Mạnh Hạo Nhiên, Vương Xương Linh, Đỗ Phủ. Vậy Uông Luân là người như thế nào? Tại sao ông lại vinh dự được trở thành nhân vật chính trong tác phẩm của Lý Bạch?

Uông Luân mặc dù không mấy danh tiếng, nhưng lại có rất nhiều giai thoại khác nhau về thân phận của ông. Có người nói ông chỉ là một người dân bình thường ở huyện Kính, cũng có người sau khi khảo chứng phát hiện ra, Uông Luân là một người nổi tiếng trong huyện Kính, và còn là con cháu đời thứ 5 của Việt quốc công Uông Hoa thời Sơ Đường, Uông Luân từng làm Huyện lệnh của huyện Kính trong những năm Thiên Bảo, ông cùng Lý Bạch, Vương Duy đều là những người bạn rất thân thiết, về sau Uông Luân ẩn cư tại đầm Đào Hoa ở huyện Kính, Lý Bạch đến thăm ông, khi rời đi mới sáng tác bài thơ này. Nhưng trong sách cổ còn ghi chép về một chuyện thú vị liên quan đến thi phẩm này.

Tương truyền rằng Uông Luân từ lâu đã ngưỡng mộ danh tiếng của Thi Tiên, nhưng mãi không có cơ duyên kết giao, khi ông nghe nói Lý Bạch đã đến huyện Kính, ông liền viết một lá thư.

Ảnh chụp từ video.

“Tiên sinh thích du ngoạn không? nơi này có thập lý đào hoa. Tiên sinh thích uống rượu không? nơi này có hàng vạn quán rượu”, muốn mời Lý Bạch đến làm khách. Sau khi Lý Bạch nhận được thư, liền vui vẻ đi đến chỗ ở của Uông Luân. Nhưng mà, Lý Bạch nhìn quanh, chỗ này vừa không có thập lý đào hoa, vừa không có hàng vạn quán rượu. Thì ra là Uông Luân cố tình “lừa” ông đến đây.

Lúc này Uông Luân mới giải thích rằng, gọi là “thập lý đào hoa” là vì cách đây mười dặm có một đầm hoa đào, gọi là “hàng vạn quán rượu” là vì ở đây có một quán rượu của gia đình họ Vạn, thì ra Uông Luân đang chơi trò chơi đố chữ với Thi Tiên, chữ Hán của Trung Quốc quả nhiên là bác đại tinh thâm. Nhưng mà, người bình thường nghe thấy vậy, có thể sẽ tức giận vì mình “bị lừa”, còn Lý Bạch thì lại rất tán thưởng trí tuệ và tâm ý của Uông Luân, ngược lại còn cười rất sảng khoái, vui vẻ chấp nhận lời giải thích của Uông Luân.

Sau đó Uông Luân nhiệt tình tiếp đãi Lý Bạch trong nhiều ngày, còn tặng cho Lý Bạch tám con tuấn mã, mười cây vải gấm, khi rời đi, Uông Luân lại còn đích thân múa hát đưa tiễn, Lý Bạch cảm động trước tình cảm của Uông Luân, vì thế đã sáng tác một bài thơ tứ tuyệt tặng cho ông ta để đáp lễ. Thơ của Lý Thi Tiên, bài nào cũng là tuyệt tác. Lý Bạch lấy thơ tặng bạn, chẳng phải là món quà quý giá nhất hay sao?

Vì một sự hiểu lầm mà Lý Bạch kết giao được một người bạn thú vị mà hào phóng. Con người thời nay thích bài thơ này của Lý Bạch có lẽ không phải chỉ vì câu chuyện đằng sau nó, mà phần lớn đều là vì khâm phục sự rộng lượng và phong độ của Lý Bạch vậy.

Chú thích:
1. “Tứ kiệt”: còn gọi là ‘Sơ Đường tứ kiệt’, là bốn nhà thơ tài hoa và nổi tiếng trong giai đoạn Sơ Đường gồm: Vương Bột, Lạc Tân Vương, Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân.
2. Hàn – Liễu – Nguyên – Bạch: Tên gọi chung 4 nhà thơ tiêu biểu trong giai đoạn Trung Đường, gồm Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Nguyên Chẩn và Bạch Cư Dị.
3. Tiểu Lý Đỗ: Tên gọi chung của Lý Thương Ẩn và Đỗ Mục. Còn tên gọi chung của Thi Tiên Lý Bạch và Thi Thánh Đỗ Phủ là “Đại Lý Đỗ”.

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch