Mọi sinh mệnh đều có nguồn gốc của nó, mỗi một sinh mệnh trong hồng trần, suy cho cùng, đằng sau cũng đều có nguồn gốc, và cũng có sứ mệnh, mục đích để đến với thế gian này và sự đan xen, gặp gỡ giữa người với người, chẳng qua đều là vì tiền duyên mà thôi…

Đại Ngọc và Bảo Ngọc lần đầu gặp mặt nhau là ở Giả phủ. Mẹ của Đại Ngọc qua đời sớm, bà ngoại cô là Giả Mẫu sai người đi đón cô từ Tô Châu vào kinh thành, đưa cô vào Giả phủ để nuôi dạy bên cạnh mình. Đại Ngọc khi đó khoảng sáu bảy tuổi. Trong phòng của bà ngoại, lần đầu tiên Đại Ngọc nhìn thấy Bảo Ngọc. Trong mắt của Đại Ngọc thì vị tiểu công tử trước mặt mình có diện mạo được hình dung là: “Khuôn mặt đầy đặn như trăng rằm mùa thu, vẻ đẹp như buổi ban ngày của mùa xuân”. Trong lòng Đại Ngọc khi ấy vô cùng kinh ngạc: “Thật là kỳ lạ! giống như đã từng gặp ở đâu đó rồi, sao lại trông quen thuộc đến như vậy!”.

Bảo Ngọc cũng nói với một khẩu khí vô cùng chắc chắn rằng: “Con đã từng gặp em gái này rồi”. Giả Mẫu đương nhiên chỉ cho rằng đây là lời nói của trẻ con, nói rằng: Hai đứa các con từ khi sinh ra đã mỗi người một nơi, Lâm muội muội ở Tô Châu, con ở Kinh Châu, đường xá xa xôi, và chưa từng gặp mặt bao giờ. Bảo Ngọc lại nói: “Kiếp này chưa từng gặp mặt, chỉ là thấy thân thiết, nhìn mặt thấy quen, trong lòng xem như đôi bên đã là người quen rồi, nếu như đã là người quen, lại gặp được tại đây, thì là cửu biệt trùng phùng”.

Bảo Ngọc còn tặng cho cô em gái nhỏ một cái tên, gọi là Tần Nhi, để nói lên vẻ đẹp tự nhiên của đôi chân mày u sầu và hai hàng mi long lanh của Đại Ngọc.

Bức tranh Đại Ngọc chôn hoa vẽ năm 1950 (Nguồn: Wikipedia)

Tiên duyên nơi thiên giới

Câu nói “con đã từng gặp em gái này rồi” chính là chủ đề được nêu ra, bởi vì hai người họ đích thực là đã gặp lại nhau sau khi ly biệt, chỉ là khi cả hai đi đầu thai đều đã uống Canh Mạnh Bà, đã quên hết chuyện cũ năm xưa, gặp lại nhau lần nữa, chỉ cảm thấy rất quen, trong lòng thấy rất thân, nhưng lại không biết là vì sao. Trong chương đầu tiên mở đầu tác phẩm “Hồng Lâu Mộng”, Không Không đạo nhân đã nói rõ lai lịch của viên đá quý gia bảo đó:

Khi Nữ Oa vá trời, đã luyện ra được ba vạn sáu ngàn năm trăm linh một hòn đá (36501), ba vạn sáu ngàn năm trăm hòn đá đều được Nữ Oa dùng để vá trời, chỉ thừa ra một hòn đá duy nhất là không dùng đến, vậy nên hòn đá này tất nhiên cũng là vô dụng rồi, Nữ Oa đem hòn đá này đặt dưới chân núi Thanh Ngạnh, hòn đá vô tri vô thức, cùng tồn tại với trời đất. Khoảng thời gian này chắc chắn là một khoảng thời gian dài bất tận, thời điểm Nữ Oa vá trời chính là lúc mà xã hội nguyên thủy đang xảy ra trận Đại Hồng Thủy, sự hiểu biết của chúng ta về thời văn minh này chính là thời Đại Vũ trị thủy, trình độ văn minh cũng chỉ là phát nương làm rẫy, kết thằng ký sự (phương pháp ghi chép các sự kiện bằng cách kết nút dây thừng vào thời cổ xưa khi chữ viết chưa ra đời), cho đến khi hòn đá này nghe thấy một tu sĩ và một đạo nhân kể về những chuyện ở chốn hồng trần sau khi đi du ngoạn trở về, hòn đá nghe chuyện liền sinh lòng ngưỡng mộ, khao khát có thể hạ phàm để trải nghiệm sự phồn hoa chốn hồng trần, mà lúc này, trên đời đã có rất nhiều triều đại trải qua nhiều sự đổi mới, nơi mà hòn đá này đầu thai đến, chính là quốc gia trung tâm của tất cả mọi quốc gia trên thế gian, nơi có nền văn minh phát triển, văn thơ lễ giáo được truyền dạy qua nhiều thế hệ. Nơi mà hòn đá này đầu thai làm người lại chính là mảnh đất phồn hoa náo nhiệt, quê hương của sự giàu sang phú quý và êm ấm chốn hồng trần.

Vậy Lâm Đại Ngọc có lai lịch như thế nào? Làm thế nào lại kết duyên với hòn đá thông linh này? Thì ra, Lâm Đại Ngọc chính là một cây Tiên thảo tên Giáng Châu mọc bên cạnh một hòn đá Tam Sinh ở bên sông Linh Hà trên Tiên giới, bên sông Linh Hà có một  cung điện tên Xích Hà Cung, trong cung có một thị giả tên Thần Anh, Thần Anh đi dạo chơi bên bờ sông, nhìn thấy cây Tiên thảo này có dáng vẻ xinh đẹp, cành lá sum suê nên vô cùng yêu thích, Thần Anh ngày ngày dùng nước cam lồ để tưới tắm cây Tiên thảo này. Sau này cây Tiên thảo này biết được thị giả Thần Anh muốn hạ phàm xuống nhân gian, liền nảy sinh ý nghĩ muốn đi theo Thần Anh hạ phàm, muốn đem cam lồ đã nhận của Thần Anh trả lại hết cho Thần Anh. Vậy trả bằng cái gì đây? Chính là trả nước mắt.

Thị giả Thần Anh xuống đến nhân gian, chính là chuyển sinh thành quý công tử Giả Bảo Ngọc của Vinh Quốc phủ, bởi vì từ khi cậu sinh ra từ thai mẹ, trong miệng đã ngậm một miếng ngọc pha lê quý hiếm, hai mặt của miếng ngọc này đều có khắc chữ: “Mạc thất mạc vong, tiên thọ hằng xương” (câu này nghĩa là không làm mất miếng ngọc là sẽ được sống bình an và trường thọ), phía trên miếng ngọc có một hàng chữ: “Thông linh bảo ngọc”. Ngoài ra, nhà họ Giả đặt tên theo thứ tự tôn ti, đến đời của cậu ấy lại trùng hợp lấy chữ lót là “Bảo”, cậu ấy có một người anh trai chết trẻ tên là Giả Châu, có anh em họ tên Giả Trân và Giả Liễn, những cái tên này đều có chữ “ngọc” trong đó, vì vậy cha mẹ không cần đặt tên khác cho cậu nữa, đặt luôn tên là Bảo Ngọc, đây chính là lai lịch của Giả Bảo Ngọc.

Còn cây Tiên thảo Giáng Châu muốn trả lại cam lồ cho Thần Anh kia lại đầu thai vào hầu phủ quý tộc ở Tô Châu, thuộc con cháu của gia tộc trí thức, mà còn là con một trong gia đình, nên từ nhỏ đã được cha mẹ yêu thương che chở, mẹ của Lâm Đại Ngọc họ Giả, là tiểu thư của Vinh Quốc phủ, con gái ruột của Giả Mẫu. Cha của Lâm Đại Ngọc là Lâm Như Hải, sinh ra trong phủ hầu tước bốn đời được kế thừa tước vị, nhưng đến đời của Lâm Như Hải, dựa theo quy định của triều đình thì không được tiếp tục kế thừa tước vị nữa, bản thân Lâm Như Hải lại là một người đọc sách rất có lòng cầu tiến, là một Thám hoa xuất thân từ khoa cử đàng hoàng, được bổ nhiệm chức vị Lan Đài Tự đại phu, cũng có nghĩa là, cho dù không được kế thừa tước vị của đời trước, Lâm Như Hải vẫn được làm quan một cách hiển hách. Khi Lâm Đại Ngọc khoảng chừng 6 tuổi, mẹ cô qua đời, cha cô lại rời khỏi Tô Châu để đi đến Dương Châu nhậm chức, làm chức quan Diêm đạo ở Dương Châu.

Còn vị tu sĩ và đạo nhân xuất hiện ở chương mở đầu lại có trăm ngàn phép huyễn hóa, thường xuyên ra vào nhân gian, để dự báo về số phận của con người trong các mối nhân duyên. Ví dụ như khi Lâm Đại Ngọc còn nhỏ, từng có một hòa thượng điên đến nhà, đưa ra lời cảnh báo về số phận của cô, nói rằng đứa bé gái này nếu muốn cả đời bình an thì không nên gặp người ngoài, mãi mãi không được rời xa cha mẹ mình, như vậy mới có thể bảo toàn cho cô cả đời. Tuy nhiên, vì mẹ của Lâm Đại Ngọc mất sớm, nên hai điều cấm kỵ này đều bị phá vỡ. Sau khi Lâm Đại Ngọc 6 tuổi mất mẹ, không lâu sau đã được bà ngoại là Giả Mẫu phái người đến đón cô từ Tô Châu đến kinh thành, đây cũng chính là rời xa cha mẹ, và tự nhiên cũng theo đó mà gặp gỡ rất nhiều người ngoài, mà người xung khắc với cô lại chính là anh họ Bảo Ngọc của cô, nhân duyên để cô gặp được Bảo Ngọc chính là vì khao khát mong muốn trả lại món nợ nước cam lồ từ tiền kiếp.

Chúng ta có thể đưa ra một kết luận rằng: Tất cả mọi sinh mệnh đều có nguồn gốc của nó, mỗi một sinh mệnh trong chốn hồng trần, suy cho cùng, đằng sau đều có nguồn gốc của nó, và cũng có sứ mệnh, mục đích để đến với thế gian này, mà sự đan xen gặp gỡ giữa người với người, chẳng qua đều là vì tiền duyên mà thôi. Nhìn cuộc đời của Bảo Ngọc mà xem, lai lịch cuộc đời của cậu ấy là một quá trình vô cùng dài, từ thuở khai thiên lập địa là đã có cậu ấy rồi, cậu ấy trải qua sự kiện Nữ Oa vá trời, lại trải qua năm tháng dài bất tận, từng là thị giả Thần Anh trên Tiên giới, đến triều đại nhà Thanh, dưới ngòi bút của Tào Tuyết Cần thì lại trở thành một nhân vật xuất hiện trong tiểu thuyết nổi tiếng. Hơn nữa, trải qua tháng năm đàng đẵng, đến cuối cùng, Giả Bảo Ngọc trong tiểu thuyết phải đối ứng với câu chuyện hưng suy thăng trầm của Giang Ninh chức tạo Tào Dần trong những năm Khang Hy trong thực tế, tất cả đều trải qua hết, đến khi kết thúc rồi, mọi người đều giải tán hết. Còn miếng “Thông linh bảo ngọc” này sau khi hoàn tất kiếp người, lại quay trở về Tiên giới, vẫn nằm ở dưới chân núi Thanh Ngạnh hoang vu. (Tào Dần là ông nội của Tào Tuyết Cần, trong những năm Khang Hy của nhà Thanh, Tào Dần từng được nhậm chức Giang Ninh chức tạo, nên gọi là Giang Ninh chức tạo Tào Dần).

Nhân gian là nơi để trả nước mắt

Ngày thường Giả Mẫu thương yêu Bảo Ngọc nhất, bà có rất nhiều cháu gái và cháu trai, nhưng vì Giả Mẫu đặc biệt yêu chiều đứa cháu trai Bảo Ngọc này, nên chỉ cho phép một mình Bảo Ngọc ở bên cạnh mình, sống chung với bà.

Sau khi Đại Ngọc đến Vinh Quốc phủ, Giả Mẫu cũng cho cô sống cùng với mình, sắp xếp cho Đại Ngọc ở trong căn phòng mà ngày thường Bảo Ngọc vẫn ở, dự tính sẽ cho Bảo Ngọc dọn vào bên trong Noãn Các, ở chung với Giả Mẫu, có thể thấy được bà yêu thích Bảo Ngọc đến mức nào. Nhưng không ngờ Bảo Ngọc lại vội vàng từ chối ý tốt của bà nội, nói rằng: Không làm phiền lão thái thái nữa, con vẫn sẽ ở trong phòng của mình, ngủ cùng với em gái.

Trong thời gian này, Bảo Ngọc và Đại Ngọc sớm tối bên nhau, ăn chung ngủ chung, là một đôi thanh mai trúc mã thực sự, tình cảm trẻ nhỏ vô cùng trong sáng. Trong sách nói hai người “ngày thì cùng đi cùng ngồi, đêm thì cùng nằm cùng nghỉ, lời nói và suy nghĩ đồng thuận, không chút đối lập”, ý muốn nói rằng, cặp anh em họ này, ban ngày đi đâu cũng đi cùng nhau, đi đứng cũng cùng nhau, ngồi xuống cũng là ngồi cạnh nhau, đến đêm thì ngủ chung giường chung gối, cả hai như hình với bóng, lời nói ăn ý, tâm ý giống nhau, giao lưu với nhau rất hòa hợp, tuyệt đối không có một chút gì là bất hòa cả.

Bảo Ngọc và Đại Ngọc đọc sách chung trong phòng Tây – bộ phim truyền hình năm 1987 (Nguồn: Wikipedia)

Đại Ngọc được gia giáo cực kỳ tốt, cha mẹ của Đại Ngọc chỉ có duy nhất một đứa con gái là cô, vì vậy hai vợ chồng đã nuôi dạy đứa con gái này vô cùng tỉ mỉ và hết lòng. Khi Đại Ngọc mới đến Giả phủ, chuyện gì cũng tận tâm, quan sát lời nói sắc mặt của mọi người, cẩn thận lời nói và hành vi, không dám có một chút gì quá giới hạn. Nhà phê bình Chi Nghiễn Trai cũng đánh giá Đại Ngọc trong thời gian ở Giả phủ như thế này: “Chuyện gì cũng chu đáo ân cần, không nhiều chuyện bao giờ”.

Trong Hồng Lâu Mộng hồi 13, 14, chủ nhân của Ninh Quốc phủ là Tần Khả Khanh, con dâu của Giả Trân, bị mất mạng tại Thiên Hương Lâu, Ninh Quốc phủ vì vậy mà phát tang không chút kiêng kỵ, Vương Hy Phượng nhận sự nhờ cậy năm lần bảy lượt của Giả Trân, đi từ Vinh Quốc phủ đến Ninh Quốc phủ để chủ trì tang sự. Trong hai hồi này, giới thiệu đơn giản về việc cha của Lâm Đại Mộc tại Dương Châu bị bệnh nặng, chồng của Vương Hy Phượng là Giả Liễn đưa cô em họ Đại Ngọc đến Dương Châu, quay trở về bên cạnh cha mình. Không lâu sau đó Lâm Như Hải qua đời, Giả Liễn giúp đỡ lo liệu chuyện tang sự, sau đó lại đưa Đại Ngọc quay về Giả phủ ở kinh thành.

Trong phần mở đầu của cuốn tiểu thuyết này đã từng giới thiệu Lâm gia là một gia đình hầu tước hiển hách, tổ tiên bốn đời đều kế thừa chức vị hầu tước, đây là một gia đình quý tộc giàu có suốt mấy đời, mà các đời của Lâm gia đều không đông con cháu, đến đời của Lâm Như Hải cũng rất ít chú bác cùng tổ tiên, cả một đời chỉ có một hậu nhân duy nhất là Lâm Đại Ngọc mà thôi. Lâm Như Hải là mệnh quan triều đình, chết trong lúc đang đảm nhận chức Diêm đạo ở Dương Châu, vì vậy ông không thể nào không có di sản để lại, bao gồm tài sản của mấy đời tổ tiên trước để lại, cộng với bổng lộc làm quan của ông, về tình về lý, những tài sản này đều thuộc về quyền thừa kế của Lâm Đại Ngọc. Nhưng Lâm Đại Ngọc là một nữ nhi khuê các, hiện tại đang sống nhờ nhà của cậu mợ, bên trên có bà ngoài, có mấy người cậu, đương nhiên là không đến lượt cô hỏi về tài sản của mình rồi, lẽ đương nhiên, số tài sản này cũng sẽ do Giả phủ thay cô bảo quản. Đoạn này sẽ được giải thích sau.

Lúc này Lâm Đại Ngọc quay trở về Giả phủ, cô đã là một cô nhi mất cả cha lẫn mẹ. Lúc bấy giờ cô và Bảo Ngọc đều đã trưởng thành, và cũng chia ra ở riêng rồi.

Lo xong tang sự cho Ninh Quốc phủ, Vinh Quốc phủ và Vương Hy Phượng lại bắt đầu chuẩn bị việc nghênh đón quý phi nương nương, tức Giả Nguyên Xuân, chị gái của Bảo Ngọc. Giả Nguyên Xuân là Nguyên Phi trong hoàng cung, lần này quay về thăm cha mẹ, người thân. Giả phủ xây một khu vườn rộng lớn, đặt tên là Tỉnh Thân Biệt Thự để nghênh đón Nguyên Phi. Khi Nguyên Phi còn là con gái trong Giả phủ, thường xuyên trông coi Bảo Ngọc, tình cảm chị em rất tốt, và cũng vì muốn lấy lòng của Nguyên Phi, các tấm biển trong vườn đều là do Bảo Ngọc đặt tên và tự tay viết chữ lên đó.

Quý phi thăm nhà, hồi cung ngay trong ngày hôm đó, khu vườn biệt thự này cũng chỉ náo nhiệt trong một ngày mà thôi, Nguyên Phi sợ rằng sau này khu vườn bị bỏ hoang, nên đã ra lệnh cho các chị em trong nhà mỗi người chia một khoảng sân ra để ở, và cũng vì đặc biệt yêu thương Bảo Ngọc, nên đã phá lệ cho chàng thanh niên này vào ở trong đại quan viên (một khu vườn nội thất rộng lớn), vì ngày thường Bảo Ngọc thích mặc trang phục màu đỏ, lấy hiệu là Di Hồng công tử, khu vườn của Bảo Ngọc lúc đầu có tên là Giáng Vân Hiên, chữ Giáng này cũng là chữ Giáng trong cây tiên thảo Giáng Châu, về sau đổi tên thành Di Hồng Viện.

Đại Ngọc thích yên tĩnh nên cô dọn đến Tiêu Tương Quán, là khu biệt phủ được bao phủ bởi một rừng trúc. Thật ra, đây cũng là một nơi chốn ẩn dụ, tức là cỏ Giáng Châu ở nhân gian vẫn sống ở nơi cây cỏ thanh vắng, cũng ngụ ý rằng nơi ở này cũng chính là nơi mà cô sẽ trả lại nước mắt (cam lồ). Tiêu Tương trúc còn gọi là trúc đốm, vào thời thượng cổ năm xưa, khi hai phi tần của Thuấn Đế là Nga Hoàng và Nữ Anh khóc thương Thuấn Đế, đã rơi nước mắt xuống rừng trúc, tạo thành loại cây trúc có những đốm nhỏ như giọt nước mắt trên thân trúc, điều này cũng mang ý nghĩa là trả nước mắt. Cây trúc quanh năm bốn mùa đều xanh tươi, nước mắt của Đại Ngọc cũng không có lúc nào dừng cả. Tiêu Tương phi tử vì tình mà chết, thật ra đây cũng là kết cục được báo trước của Đại Ngọc, Tiêu Tương Quán chính là nơi ở cuối cùng của Đại Ngọc, cô khóc cạn nước mắt mà chết, trả hết nợ cam lồ, lúc chết vẫn còn là một cô gái chưa gả chồng, đây cũng chính là “chất bổn khiết lai hoàn khiết khứ” trong Táng hoa từ của cô. (câu thơ này nói rằng Đại Ngọc vốn dĩ đến với thế gian này với bản chất thuần khiết trong sạch, và ra đi cũng với tinh thần thuần khiết trong sạch như vậy).

Chúng ta đều biết rằng: đằng sau mỗi một câu chữ trong ngôn ngữ Thần truyền Trung Hoa đều hàm chứa nội dung phong phú. Cỏ Giáng Châu, ‘giáng’ tức là màu đỏ, còn ‘châu’ ở đây là giọt nước mắt. Điều này mang ý ẩn dụ cho số phận của Lâm Đại Ngọc ở nhân gian sẽ phải rơi lệ chảy máu để trả món nợ nước mắt. Còn chữ ‘xích’ trong “Xích Hà Cung” cũng mang ý nghĩa là màu đỏ. Nơi ở của Bảo Ngọc trong khu vườn rộng lớn cũng tên là Di Hồng Viện, khi viết thơ, Bảo Ngọc luôn đề tên là Di Hồng công tử, khi Tào Tuyết Cần viết cuốn sách này, bởi vì nghèo khổ, không còn vườn cây rộng lớn cũng không còn khuôn viên, ông tự đặt tên cho  nơi ở của mình là “Điệu Hồng Hiên”, một hiên nhỏ tưởng nhớ Di Hồng Viện. Cuốn sách này tên là “Thạch Đầu Ký”, cũng tên là “Hồng Lâu Mộng”. Cũng có nghĩa là, ý nghĩa của những danh từ này từ đầu đến cuối luôn đối ứng với nhau. Muốn nói lên rằng: sự sống có một quá trình nguồn gốc rất dài. Mà ‘giấc mộng Hồng Lâu này’, không chỉ là Di Hồng Viện và Tiêu Tương Quán của nhân gian, mà còn là cỏ Giáng Châu và Xích Hà Cung ở trên tiên giới, cùng ở trong một giấc mộng lớn này, đây cũng chính là sự tuyệt diệu vô hạn của chữ Hán, từ ngữ Trung Hoa xưa luôn chứa đựng ý nghĩa sâu sắc và nội hàm phong phú.

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

Video: Không phải bởi tài năng và mưu lược, vì sao Gia Cát Lượng được cả nước Nhật tôn sùng?

videoinfo__video3.dkn.tv||f506c1aaf__

Ad will display in 09 seconds