“Tài hoa văn chương thiên bẩm, ngôn từ tươi đẹp lạc quan, có thơ Đường 300 năm hưng thịnh phong nhã, thực là có hoàng đế mở đường mới đạt được vậy”.

Nhờ Đường Thái Tông đề xướng và tác động mà thơ Đường được phát triển phồn thịnh. Nói về chiến tích võ công của Thái Tông thì có lẽ không cần bàn tới nữa, nhưng tại phương diện văn hóa nghệ thuật, ông cũng đạt được thành tựu rất đáng ngưỡng mộ. Một mẩu chuyện nhỏ trong ‘Toàn Đường Thi’ có viết về ông như thế này: “Tài hoa văn chương thiên bẩm, ngôn từ tươi đẹp lạc quan, có thơ Đường 300 năm hưng thịnh phong nhã, thực là có hoàng đế mở đường mới đạt được vậy”. ‘Đường âm quý thiêm’ có viết: “Thái Tông vượt ra ngoài văn và võ, trở thành hoàng đế dẫn đầu sáng tạo ngâm nguyên”. Cả văn lẫn võ, đối với lịch sử hưng thịnh của thơ Đường, Thái Tông cũng đạt vị trí cao và khởi tác dụng hết sức rõ ràng. Tuy nhiên, các nhà phê bình thường chú ý đến địa vị và tư tưởng ảnh hưởng trọng yếu tới văn học mà chưa quan tâm đầy đủ tới bản thân thơ ca của ông. 

Mặc dù rất thành công trong lĩnh vực thơ ca nhưng Thái Tông lại không nhấn mạnh vào danh vọng trong nghiệp văn chương, ông một mực không cho biên tập các bài thơ in thành sách. Vì vậy mà hậu nhân không biết nhiều về khả năng thơ văn của ông. Đời sau, vào thời nhà Thanh, mọi người mới tập hợp những bài thơ văn của ông lại đưa vào ‘Toàn Đường Thi’ và ‘Toàn Đường Văn’. Văn của ông có tổng cộng 7 cuốn, 5 quyển phú, 1 tập thơ gồm 69 bài. Thái Tông từng nói, văn thơ của ông nếu như có thể giúp ích cho dân chúng thì lịch sử sẽ ghi lại. Vậy là được lưu danh trăm thế hệ rồi. Nếu như không đem đến điều tốt cho dân chúng thì biên tập thành sách liệu có tác dụng gì? Lương Vũ Đế và Trần Hậu Chủ (hoàng đế cuối cùng thời Nam Trần là Trần Thúc Bảo), Tùy Dạng đế có tuyển tập văn chương lưu lại cho hậu thế nhưng cũng không cứu vãn được vận rủi diệt vong. Làm bậc quân chủ, điều đáng sợ nhất chính là không thi hành nền chính trị nhân đức, thực thi không tốt thì những áng văn chương đó chẳng còn tác dụng gì đối với xã tắc. Những ngôn từ này cho thấy sự nhìn nhận một cách thấu triệt và chính xác của ông.  

Mở đầu chùm thơ của Thái Tông trong ‘Toàn Đường thi’ là bài ‘Đế kinh thiên thập thủ’, đã mô tả cuộc sống sinh hoạt của đế vương ở nhiều khía cạnh khác nhau như đọc sách, võ thuật, nghe nhạc, làm vườn, chèo thuyền, yến tiệc, thưởng thức múa,… mặc dù vui cười nhưng vẫn không quên nhắc nhở mình “Sao phải chọn chỗ khúc sông, mới là nơi mở ra tiệc vui”, hay “Chớp mắt đắc ý không khinh suất, chớ quên khinh Xích Bích năm xưa”. Từ đầu đến cuối ông đều không quên cảnh tỉnh chính mình là không đắm chìm trong niềm vui hưởng thụ. Tới cuối cùng lại có “Nhân đạo nhiều ác mà thấy nguy, khiêm tốn giới đủ để sạch trong. Phụng Thiên toàn tâm toàn ý dâng hiến, gần dân suy nghĩ dưỡng ân huệ. Thiện ý nghe trung thần can gián, luật lệ rõ ràng thận trọng áp dụng hình phạt thưởng khen. Sáu năm chân thành vẫn khó tiếp, bốn ba sai quấy lại dễ theo. Phổ biến đối xử chân thành mà cảm hóa rộng khắp, hướng đến cơ nghiệp đời sau mà ngân vang mãi”. 10 bài đã cho thấy biện pháp thực hiện tư tưởng chính trị của ông, đồng thời thành tựu tầm nhìn trong ngôn từ thơ ca “nói ra ‘Đế kinh thiên’ dựa vào chí nguyện thanh cao sáng rõ”. 

Đế kinh thiên thập thủ

Tần Xuyên hùng đế trạch, Hàm Cốc tráng hoàng cư. Khỉ điện thiên tầm khởi, ly cung bách trĩ dư.
Liên hoăng diêu tiếp Hán, phi quan huýnh lăng hư. Vân nhật ẩn tằng khuyết, phong yên xuất khỉ sơ.
Nham lang bãi ky vụ, sùng văn liêu trú liễn. Ngọc hạp khải long đồ, kim thằng phi phượng triện.
Vi biên đoạn nhưng tục, phiếu trật thư hoàn quyển. Đối thử nãi yêm lưu, y án quan phần điển.
Di bộ xuất từ lâm, đình dư hân vũ yến. Điêu cung tả minh nguyệt, tuấn mã nghi lưu điện.
Kinh nhạn lạc hư huyền, đề viên bi cấp tiến. Duyệt thưởng thành đa mỹ, vu tư nãi vong quyện.
Minh già lâm nhạc quán, thiếu thính hoan phương tiết. Cấp quản vận chu huyền, thanh ca ngưng bạch tuyết.
Thải phượng túc lai nghi, huyền hạc phân thành liệt. Khứ tư Trịnh Vệ thanh, nhã âm phương khả duyệt.
Phương thần truy dật thú, cấm uyển tín đa kỳ. Kiều hình thông hán thượng, phong thế tiếp vân nguy.
Yên hà giao ẩn ánh, hoa điểu tự tham soa. Hà như tứ triệt tích, vạn lý thưởng dao trì.
Phi cái khứ phương viên, lan nạo du thúy chử. Bình gian nhật thải loạn, hà xử hương phong cử.
Quế tiếp mãn trung xuyên, huyền ca chấn trường tự. Khởi tất phần hà khúc, phương vi hoan yến sở.
Lạc nhật song khuyết hôn, hồi dư cửu trọng mộ. Trường yên tán sơ bích, kiểu nguyệt rừng khinh tố.
Khiên hoảng ngoạn cầm thư, khai hiên dẫn vân vụ. Tà hán cảnh tằng các, thanh phong diêu ngọc thụ.
Hoan nhạc nan tái phùng, phương thần lương khả tích. Ngọc tửu phiếm vân lôi, lan hào trần khỉ tịch.
Thiên chung hợp Nghiêu Vũ, bách thú hài kim thạch. Đắc chí trọng thốn âm, vong hoài khinh Xích Bích.
Kiến chương hoan thưởng tịch, nhị bát tẫn yêu nghiên. La khỉ chiêu dương điện, phân phương đại mạo diên.
Bội di tinh chính động, phiến yểm nguyệt sơ viên. Vô lao thượng huyền phố, tức thử đối thần tiên.
Dĩ tư du quan cực, du nhiên độc trường tưởng. Phi quyển lãm tiền tung, phủ cung tầm ký vãng.
Vọng cổ mao tỳ ước, chiêm kim lan điện nghiễm. Nhân đạo ác cao nguy, hư tâm giới doanh đãng.
Phụng thiên kiệt thành kính, lâm dân tư huệ dưỡng. Nạp thiện sát trung gián, minh khoa thận hình thưởng.
Lục ngũ thành nan kế, tứ tam phi dịch ngưỡng. Nghiễm đãi thuần hóa phu, phương tự vân đình hưởng.

Tạm dịch:

10 bài Đế Kinh Thiên

Tần Xuyên oai hùng đế vương ở, Hàm Cốc sừng sững hoàng đế đứng. Cung điện nguy nga ngàn thước dựng, hành cung trăm trượng thật có dư. 
Xa gần dân Hán chết chóc liên miên, bay lơ lửng trên không trung xem cảnh tượng lại khác hẳn. Mây trời mang chứa bao lầm lỗi, sương khói điểm thêm nét đẹp hoang sơ. 
Nơi mỏm đá ngừng bàn việc quân cơ, vua dẫn đường sùng kính văn chương. Hộp đựng ngọc tỷ bắt đầu vẽ hình rồng, tiền vàng nối tiếp in hình phượng. 
Lề sách đứt đoạn nhiều lần liên tiếp, hộp đựng màu trắng xanh mở ra sách cất trữ. Đối với điều này chính là bảo tồn dài lâu, y như xem sách làm chuẩn mực đối chiếu. 
Sự thay đổi giúp viết ra nhiều bài từ, hân hoan mừng tiệc võ giờ nên dừng lại. Điêu khắc hình cong theo kiểu mặt trăng, tuấn mã em chỉ làm việc chuyển thư.  
Kinh nhạn hạ cánh dây cung đứt, vượn khóc bi thương vội thu tên. Duyệt thưởng ban chân thành đẹp đẽ, với hiện tại quả không thấy mệt. 
Tiếng đàn hồ phỏng theo nhạc quán, nhìn xa nghe thấy hoa cỏ vui. Gấp rút quản lý thanh âm tiếng đàn, lời ca trong sáng làm ngưng tụ tuyết. 
Màu sắc phượng cung kính trang nghiêm dùng làm đồ tế lễ, sắc đen hạc rẽ thành hàng lối. Bỏ đi thanh âm thời Trịnh Vệ, âm tiết trở nên mẫu mực khiến lòng người thêm vui. 
Hoa cỏ Thần Châu có thêm sức sống, vườn Thượng Uyển hiện ra nhiều màu sắc. Hình dáng cây cầu dựng theo kiểu nhà Hán, phong thế đến gần với mây xanh. 
Khói dáng ngầm đan ánh sáng chiều, hoa chim tự nhiên không hợp cảnh. Vết tích bốn bánh hiện ra như thế nào, vạn dặm Dao Trì còn khen ngợi.
Ô lọng bay làm mất hương thơm khu vườn, buông mái chèo dạo chơi đảo biếc. Giữa đám bèo ánh dương loạn sắc, nơi đầm sen hương theo gió bay.
Mái chèo ngập tràn giữa dòng Quế Giang, đàn ca chấn động toàn đảo nhỏ. Vì sao cứ phải ở tại khúc sông này, mới là nơi khai mở tiệc vui? 
Mặt trời lặn hai cung im lìm, trở về xe kiệu lúc hoàng hôn trĩu nặng. Sương mù dày đặc tản ra màu ngọc ban sơ, trăng sáng gạn lấy sắc trắng trong nhẹ nhàng. 
Vén màn che thưởng thức cầm thư, mở cửa thư phòng dẫn mây sương tới. Ngân hà nghiêng sáng tầng lầu các, gió mát làm lay động cây trên cung trăng. 
Nhạc vui khó gặp lại, hoa cỏ Thần Châu rất đáng luyến tiếc. Mây bay bồng bềnh trên vò đựng ngọc tửu, đồ ăn ngon bày biện đẹp trên bàn tiệc. 
Ngàn chung hợp Nghiêu Vũ, bách thú hài hòa cùng Kim Thạch. Chớp mắt đắc ý chớ khinh suất, đừng quên khinh Xích Bích năm xưa. 
Thiết tiệc mừng vui thưởng cuối chiều, hai tám ngày hưởng tận cái đẹp yêu tà. Lúc mặt trời lặn bày lụa hoa bộc bạch tâm tư, hương đồi mồi còn bay trên chiếu tiệc. 
Phục sức thay đổi ngôi sao chính dời đi, không còn che đậy trăng đầu tháng lại tròn. Không lao động khiến ruộng vườn bỏ hoang, cái này đối lập với mong muốn của Thần Tiên. 
Theo dòng suy nghĩ du ngoạn nhìn các cực, khoan thai một mình nghĩ hồi lâu. Mở ra bài thi xem tích cũ, nhắc nhở chính mình tìm chuyện xưa.
Vọng cổ nhân lều tranh ước hẹn, nay nhìn cung điện rộng nguy nga. Nhân đạo nhiều ác mà thấy nguy, khiêm tốn giới đủ để sạch trong.   
Phụng Thiên toàn tâm toàn ý dâng hiến, gần dân suy nghĩ dưỡng ân huệ. Thiện ý nghe trung thần can gián, luật lệ rõ ràng thận trọng áp dụng hình phạt thưởng khen.
Sáu năm chân thành vẫn khó tiếp, bốn ba sai quấy lại dễ theo. Phổ biến đối xử chân thành mà cảm hóa rộng khắp, hướng đến cơ nghiệp đời sau mà ngân vang mãi. 
Thái Tông cũng viết nhiều bài thơ nhìn nay ngẫm chuyện xưa, làm toát lên tấm lòng khẳng khái cùng năm tháng đối với bậc tài hoa cũng như ôm ấp tình cảm của bậc đế vương thống nhất thiên hạ, giống như nội dung bài thơ ‘Đăng Tam Thái ngôn chí’.  

Hoàng đế Taizong của nhà Đường trong “Buran” của Yan Liben. (Ảnh: phạm vi công cộng)

‘Đăng tam thai ngôn chí’

Vị ương sơ tráng hán, A Phòng tích xỉ Tần.
Tại nguy do sính lệ, cư xa toại dịch nhân.
Khởi như gia tứ hải, nhật vũ khánh triêu luân.
Phiến thiên tài hộ cựu, thế địa tiễn cơ tân.
Dẫn nguyệt kình tiêu quế, phiêu vân bức thự lân.
Lộ trừ quang huyễn ngọc, sương khuyết ánh điêu ngân.
Vũ tiếp hoa Lương Yến, ca nghênh điểu lộ trần.
Kính trì ba thái dịch, trang uyển lệ nghi xuân.
Tác dị cam tuyền nhật, đình phi lộ tẩm thần.
Niệm lao tàm dật kỷ, cư khoáng phản lao thần.
Sở hân thành đại hạ, hoành tài trữ vị tân.

Tạm dịch

Trèo lên Tam Thai nói chí hướng

Hùng tráng Hán triều vẫn còn lưu dấu tích, cung A Phòng xưa hoa lệ triều Tần.
Tại nguy nan vẫn còn theo đuổi cái đẹp, chốn xa hoa thích thú sai khiến người.
Há như bốn biển là nhà, dưới vầng dương không có triều đại đổi thay
Thiên khung loại bỏ điều xưa cũ, thềm đất tiễn biệt tân cơ.
Dẫn trăng lên trong đêm thành vầng nguyệt quế, cùng mây bay tới gần lúc ban mai. 
Lộ ra ánh sáng màu ngọc thạch, trắng ngần nhưng thiếu viền chạm khắc. 
Điệu múa nghênh đón hoa Lương Yến, lời ca mừng chim Điểu tẩy lộ trần.
Sóng nước dao động mặt hồ gương, thôn trang vườn tược đẹp tựa xuân thì.
Sáng tác đặc biệt tuôn trào như suối ngọt, ngừng lại đã thấy hết giờ nghỉ ngơi.
Nghĩ lại thấy hổ thẹn lúc nhàn hạ, ở nơi trống trải mà cảm thấy buồn bực. 
Hân hoan mừng đại nghiệp thiên hạ thành công, nhân tài rộng khắp đứng lặng bên sông Vị Hà. 


Ẩm mã Trường Thành quật hành
Tắc ngoại bi phong thiết, giao hà băng dĩ kết. Hãn Hải bách trọng ba, Âm sơn thiên lý tuyết.
Huýnh thú nguy phong hỏa, tằng loan dẫn cao tiết. Du du quyển bái tinh, ẩm mã xuất Trường Thành.
Hàn sa liên kỵ tích, sóc xuy đoạn biên thanh. Hồ trần thanh ngọc tắc, Khương địch vận kim chinh.
Tuyệt mạc kiền qua tập, xa đồ chấn nguyên thấp. Đô úy phản long đôi, tương quân toàn mã ấp.
Dương huy phân vụ tĩnh, kỷ thạch công danh lập. Hoang duệ nhất nhung y, linh thai khải ca nhập.

Tạm dịch:

Ngựa uống nước trong hang động Trường Thành 

Bắc Trường Thành gió rít thê lương, sông đan nhau kết thành băng giá. Hãn Hải điệp trùng sóng cát, núi Âm ngàn dặm tuyết.
Đốt lửa hiệu dự phòng nguy hiểm, núi non điệp trùng thổi bùng khí tiết. Ung dung cuộn lại lá cờ hiệu, ngựa uống nước khoan thai rời Trường Thành.
Dấu chân ngựa in hằn trên cát lạnh, trăng lưỡi liềm sắc lẹm cắt tiếng gió miền biên cương. Bụi người Hồ bao kín ngọc biếc, tiếng kèn Khương báo hiệu hành quân.
Đoạn đứt sa mạc thu lượm binh khí, dòng nước chảy về nơi đất trũng. Đô úy trở lại đồi rồng, Tướng quân về nơi Mã Ấp.
Giương cao ngọn cờ chỉ huy trong mờ sương tĩnh lặng, lưu truyền khắc tạc công danh trên bàn thạch. Nơi biên cương hoang vu bỏ lại tấm quân trang, nơi mộ phần vang lên khúc khải hoàn tưởng niệm.

Chấp khế tĩnh tam biên

Chấp khế tĩnh tam biên, trì hành lâm vạn tính. Ngọc thải huy quan chúc, Kim Hoa lưu nhật kính.
Vô vi vũ trụ thanh, hữu mỹ tuyền ki chính. Kiểu bội tinh liên cảnh, phiêu y vân kết khánh.
Tập vũ diệu thất đức, thăng văn huy cửu công. Yên ba rừng cựu bích, trần hỏa tức tiền hồng.
Sương dã thao Liên kiếm, quan thành bãi nguyệt cung. Tiễn xuyết du Thiên hợp, Tân Thành liễu tắc không.
Hoa tiêu thông lĩnh tuyết, hộc tẫn lưu sa vụ. Thu giá chuyển căng hoài, xuân băng di chẩn lự.
Thư tuyệt long đình vũ, phong hưu phượng huyệt thú. Y tiêu tẩm nhị nan, thực cán xan tam cụ.
Tiễn bạo hưng tiên phế, trừ hung tồn tích vong. Viên cái quy thiên nhưỡng, phương dư nhập địa hoang.
Khổng hải trì kinh ấp, song hà chiểu đế hương. Tuần cung tư lệ kỷ, phủ tục quý thì khang.
Nguyên thủ trữ diêm mai, cổ quăng duy phụ bật. Vũ hiền Không Lĩnh tứ, dực thánh Tương Thành thất.
Kiêu tục thứ phản thuần, thế văn liêu tựu chất. Dĩ tri long chí đạo, cộng hoan khu vũ nhất.

Tạm dịch: 

Thực hiện khế ước 3 biên yên ổn

Thực hiện khế ước làm yên ổn 3 biên giới, trông nom coi sóc đến gần với vạn dân. Sắc ngọc thắp sáng ngọn nến nơi quan ải, Kim Hoa còn lưu vầng thái dương.
Nhờ đạo lý vô vi mà vũ trụ sạch trong, có đắc ý thấy chuôi sao Bắc Đẩu ngay chính. Ánh sáng sao bội tinh soi cảnh trí, y phục bay bay thấy hình mây đan thành khánh. 
Nội hàm của võ diệu ở bảy đức, văn thăng hoa sáng ở chín công. Khói trên sông trong như màu ngọc bích cũ, bụi lửa dừng chân trước sắc hồng. 
Sương giá thôn quê bao phủ Liên kiếm, quan ải thành trì chẳng thấy cung trăng. Tiền điểm tô cây du Thiên hợp, Tân Thành quân doanh biên cương trống không.  
Chi tiêu như núi xanh tuyết trắng, nhiễu tận dòng cát sương mù. Thu giá lạnh mà nơm nớp trong lòng, xuân băng giá càng ưu sầu lo nghĩ.  
Thư tuyệt long đình vũ, chiến tranh hết phượng huyệt đóng. Y phục ngủ đêm là cái khó thứ hai, thức ăn ban đêm là cái sợ thứ ba.   
Bỏ tàn bạo khiến đời trước bị phế bỏ, trừ thứ sấu tồn tại khiến xưa kia bị bại vong. Tròn đầy che chở về với đất trời, dẫn dắt quần chúng khai khẩn đất hoang 
Lỗ biển thành hào kinh ấp, hai sông hồ thượng giới. Tuân thủ cung kính suy nghĩ động viên chính mình, nuôi dưỡng dung tục mà hổ thẹn lúc giàu sang.
Quân chủ đứng lặng hồi lâu nghĩ đến hiền tài, chỉ họ mới là cánh tay đắc lực trợ giúp đất nước. Người hiền Không Lĩnh bốn, bậc Thánh Tương Thành bẩy.
Chỉnh lại phong tục ngõ hầu trở về thuần chính, giúp giới văn học đến gần với mộc mạc. Đã nhận ra đạo cao nhất của hưng thịnh, chính là cùng dân chúng chung vui trong một mái nhà.

Xuân nhật vọng hải

Phị khâm điểu thương hải, bằng thức ngoạn xuân phương.
Tích lưu hoành địa kỷ, sơ phái dẫn thiên hoàng. 
Tiên khí ngưng Tam Lãnh, hoà phong phiến bát hoang
Phất triều vân bố sắc, xuyên lãng nhật thư quang.
Chiếu ngạn hoa phân thái, mê vân nhạn đoạn hàng.
Hoài ti vận thâm quảng, trì mãn thủ linh trường.
Hữu hình phi dị trắc, vô nguyên cự khả lượng.
Hồng đào kinh biến dã, thúy đảo lũ thành tang.
Chi phù tư hán đế, kiệt thạch tưởng tần hoàng.
Nghê thường phi bổn ý, đoan củng thư đồ vương.

Tạm dịch

Ngày xuân hướng về phía biển
Choàng tấm áo vọng nhìn về phía biển, dựa lan can thưởng ngoạn tiết xuân.
Tích cũ chảy ngang trời đất, khai thông chuyển hướng hồ thiên.
Tiên khí ngưng tụ tựa Tam Lĩnh, hòa cùng phong vũ tám phương.
Sóng mây lướt nhẹ tựa thủy triều, dải sóng xuyên suốt thong thả tựa hào quang.
Chiếu rọi hai bên bờ khác nhau, say mê vân vũ mà quyết ý.
Cúi mình trước sự thâm sâu rộng lớn, gìn giữ tất cả tinh thần này.
Có hình dạng nhưng không thể suy đoán, không ngọn nguồn nào biết nông sâu?
Sóng lớn kinh biến, hòn đảo xanh nhiều phen hóa tang thương.
Núi Chi Phù hoài niệm Hán đế, bia đá vọng nhớ Tần Vương.

Nghê thường không phải ý định ban đầu, nguyên là ôm trọn lấy bức tranh hùng vĩ
Lực bút mạnh mẽ, khung cảnh rộng lớn, thơ của Thái Tông đã thể hiện rõ khí phách của bậc vương giả. Bài thơ ‘Xuân nhật vọng hải’ của ông đã trở thành tác phẩm tuyệt vời khác sau tác phẩm ‘Ngắm biển’ của Tào Tháo. 

Các văn nhân học giả trong lịch sử khi nghiên cứu về thơ Đường đều đã bỏ qua những áng thơ do Đường Thái Tông sáng tác. Kỳ thực, thơ của Thái Tông không chỉ mang chứa cảnh ý sâu sắc mà nghệ thuật cũng đạt cảnh giới tương đối cao, hơn nữa còn ảnh hưởng rất lớn đến giới văn học thơ văn giữa và cuối thời nhà Đường.

(Còn tiếp)

Theo Epoch Times
San San biên dịch