Dương Quý phi ngoài tài ca múa ra, nhất định còn biết đánh đàn, cũng như sở hữu một cây đàn mà mình rất mực yêu quý. Nhưng không biết cây đàn này sau khi rời khỏi chủ nhân tôn quý, số phận thế nào?

Dương Quý phi, tên thật là Dương Ngọc Hoàn, hiệu Thái Chân, là một trong “Tứ đại mỹ nhân” trong lịch sử Trung Quốc thời xưa, là phi tần của Đường Huyền Tông. Năm 756, bởi “loạn An Sử”, Đường Huyền Tông dẫn theo Dương Quý Phi và tể tướng Dương Quốc Trung (anh họ của Dương Quý phi) tháo chạy đến đất Thục Trung (nay là Thành Đô, Tứ Xuyên), khi đi qua gò Mã Ngôi (nay là phía tây thành phố Hưng Bình, tỉnh Thiểm Tây), quân sĩ thuộc đội cấm quân tùy giá nổi dậy, xử tử Dương Quốc Trung, và nói rằng “giặc hại nước vẫn còn”, yêu cầu Đường Huyền Tông xử tử Dương Quý phi. Theo ghi chép trong chính sử, Đường Huyền Tông đành phải nén đau thương hạ chiếu cho Dương Quý phi thắt cổ tự vẫn.

Theo “Cựu Đường Thư”, Dương Quý phi “giỏi ca múa, tinh thông âm luật, thông minh hơn người”, từ đây có thể thấy ngoài việc múa “Nghê Thường Vũ Y Khúc” do chính tay Đường Huyền Tông biên soạn ra, nhất định còn biết đánh đàn, cũng như sở hữu một cây đàn mà mình rất mực yêu quý. Nhưng không biết cây đàn này sau khi rời khỏi chủ nhân tôn quý, tung tích thế nào?

Sau triều đại nhà Đường, trải qua 60, 70 năm cục diện rối loạn của thời Ngũ đại Thập quốc, 300 năm thống nhất dưới hai triều lưỡng Tống, sau khi Hốt Tất Liệt kiến lập triều Nguyên, khi người Tây Hạ là Dương Liên Chân Già làm quan Tổng nhiếp vùng Giang Nam. Sau khi đào bới lăng mộ của hoàng đế, hoàng hậu và công hầu khanh tướng của triều đại nhà Tống trở về trước, bao nhiêu vàng bạc châu báu, các loại bảo vật bồi táng đều bị trộm sạch, xương sọ của Tống Lý Tông thậm chí bị làm thành món đồ đựng uống nước.

Những nhân vật và sự kiện dường như mấy không liên quan này lại tình cờ gặp nhau trong trải nghiệm của một đạo sĩ ở triều đại nhà Thanh.

Tượng Zhao Yun, Lizong của triều đại nhà Tống (do Bảo tàng Cung điện Quốc gia sưu tầm)

Trong cuốn “Mai Ưu Tập – Quyển 1” của nhà văn Chu Dực Thanh đời nhà Thanh, thời vua Khang Hy (năm 1662 – năm 1722), có một đạo sĩ tên là Vong Thuyên, nguyên là con một gia đình danh gia vọng tộc ở phủ Vũ Xương, Hồ Bắc. Thời ấu niên lạc mất người nhà, để tránh hỗn loạn, đã vào Lao Sơn làm đạo sĩ. Vong Thuyên là người tính tình hào sảng, cởi mở, rất thích đọc sách uống rượu, giỏi vẽ trúc bằng mực nho, đặc biệt là ông chơi đàn rất thạo. Mỗi khi bắt gặp một cây đàn nổi tiếng thuộc hàng thượng phẩm, ông đều sẽ bỏ ra lượng lớn tiền để mua lại, đến nỗi ông thường mang đồ đi cầm để đổi tiền mua đàn.

Về sau, Vong Thuyên nghe nói ở huyện Tân An, tỉnh Hà Nam có một phú thương tên Ngô Úy Long, sưu tầm rất nhiều cây đàn nổi tiếng, bèn mang theo lương khô đến viếng thăm. Phú thương thấy Vong Thuyên mang theo cây đàn cổ đến, liền hỏi: “Đạo sĩ cũng giỏi chơi đàn ư?”. Vong Thuyên trả lời rằng: “Gảy đàn có thể nói là thú vui yêu thích nhất đời tôi, nhưng tiếc là tôi vẫn chưa gặp được một cây đàn thật sự hay”. Rồi ông chỉ vào cây cổ cầm trong tay, nói: “Đây là cây đàn trong nhà Thừa tướng Giả Tự Đạo, tể tướng nhà Tống. Tôi đã phải bỏ ra năm trăm lượng bạc mới mua được nó, nhưng nó không phải là thượng phẩm. Bần đạo nghe nói tiên sinh sưu tầm rất nhiều cổ cầm, vậy nên không ngại đường xa đến đây, chẳng hay tiên sinh có thể cho tôi xem thử được không?”.

Phú thương đàm luận cầm lý với Vong Thuyên. Vong Thuyên đã giảng thuật tường tận cho ông về thủ pháp mạt, khiêu, câu, tích, v.v., có rất nhiều kiến giải tinh diệu. Phú thương nhất thời không thể lĩnh hội toàn bộ, liền mời Vong Thuyên biểu diễn đánh đàn để chỉ giáo. Vong Thuyên mở túi đàn ra, liền gảy một khúc “Thủy Tiên Tháo”. Ngô Úy Long ngồi ngay ngắn, cung kính lắng nghe, chỉ cảm thấy mình như đã đi vào rừng sâu núi thẳm, lại như đang ở trong làn sóng biển nhấp nhô lên xuống. Điều này khiến Ngô Úy Long kinh ngạc không thôi. Vong Thuyên ngưng đàn, cười nói rằng: “Giai điệu này được truyền từ Bá Nha đến Kê Khang, tên gọi là ‘Quảng Lăng Tán’, cái gọi là người Quảng Lăng ngắm nhìn sóng cả. Sau khi Kê Khang mất, giai điệu này đã tuyệt tích, tôi chỉ là dựa theo cảm xúc của riêng tôi mà gảy nó ra mà thôi”. 

Ngô Úy Long bèn lấy ra hơn chục cây đàn mà ông cất giữ cho Vong Thuyên xem, nhưng chúng đều là món đồ rất bình thường. Riêng cây đàn cuối cùng là lấy con ngươi mèo vàng làm cầm huy, và đá long can làm cầm chẩn, mặt sau còn khắc hai chữ “Xuyên Vân”. Chỉ thấy cây đàn này phẩm chất tinh xảo, cứng chắc, sắc điệu cổ kính, vừa nhìn đã biết là vật báu có một không hai. Vong Thuyên yêu thích không rời tay được, xin dùng cây đàn của mình đổi lấy cây Xuyên Vân cầm này, Ngô Úy Long không đồng ý, ông liền trả thêm 500 lượng bạc nữa, Ngô Úy Long vẫn không chấp nhận, rồi gọi người hầu cất cây đàn đi. Vong Thuyên đành phải đứng dậy, ủ rũ đi ra ngoài, đến chỗ người gác cổng thăm dò tình hình.

Đạo sĩ Vong Thuyên không thể đặt nó xuống và yêu cầu trao đổi khí của chính mình (Ảnh: [Yuan] Phần bức tranh của Wang Zhenpeng)

Người gác cổng nói: “Chủ nhân cũng chỉ là học đòi văn vẻ thôi, chứ thật sự cũng không đủ trình độ để nhận biết đâu. Hôm nay nghe ông đánh giá và ngưỡng mộ cây đàn này như vậy, làm sao có thể dùng tiền để dao động ông ấy đây”. Vong Thuyên bèn rời khỏi nhà phú thương, tạm trú ở một ngôi chùa, phát thệ nếu không có được cây đàn này, tuyệt sẽ không về nhà. Nhưng cuối cùng ông cũng không nghĩ ra cách nào, hàng ngày chỉ biết mượn rượu giải sầu.

Không lâu sau, một buổi tối nọ, ông một mình uống rượu dưới ánh trăng, nghĩ đến số ngân lượng mang theo đã sắp dùng hết, mà cây đàn quý vẫn chưa có được, bất giác rơi lệ. Lúc này, bỗng nghe thấy có tiếng dép gỗ nơi  chỗ tối cạnh vách tường, một cô gái dáng điệu thướt tha tươi cười bước tới, nói rằng: “Giờ lành cảnh đẹp như vậy, thiếp xin được ca hát uống rượu cùng chàng để giải nỗi u sầu, có được chăng?”. Vong Thuyên ngạc nhiên hỏi cô gái từ đâu đến, cô gái nói: “Chàng đừng truy hỏi làm gì, thiếp đảm bảo là sẽ không mang đến tai họa cho chàng”. Nói xong, lấy từ trong người ra cái phách bản màu vàng làm bằng ngà, hát một khúc “Cầm Tâm” (tấm lòng cây đàn), âm vận thê lương, tư dung đẹp đẽ. Vong Thuyên uống liền mấy chén rượu, rồi say khướt ngả lăn ra giường.

Đợi khi Vong Thuyên tỉnh lại, nhìn thấy ánh trăng sáng vằng vặc từ ngoài cửa sổ chiếu chếch vào, cô gái vẫn ngồi trước đèn. Vong Thuyên vội đứng dậy giục cô gái về nhà đi ngủ. Cô gái nói: “Thiếp cũng không phải là kẻ bỏ trốn. Kể từ lúc bị chàng phát hiện, cảm thấy trên đời vẫn còn có ý trung lang, rồi biết chàng lại tình sâu như vậy, nên mới lén trốn chủ nhân ra đây, mong được gửi gắm tấm thân. Dẫu là chuyện trong lòng, không chừng thiếp còn có thể đưa ra chủ ý cho chàng, không ngờ chàng lại cự tuyệt ta như vậy”. Nói xong, nàng lấy tay áo lau nước mắt. Vong Thuyên cảm động, kể cho nàng nghe lý do vì sao mình lại nán lại nơi đây. Cô gái nói: “Việc này rất dễ thôi”. Vong Thuyên hết sức mừng rỡ, nói: “Nếu đã như vậy, thế thì đêm nay nguyện vì tình mà chết vậy”.

Lúc này trời đã về khuya, lát sau, một tiếng chim kêu vọng đến, cô gái vội vàng trở dậy nói: “Hai chúng ta sao còn có thể tiếp tục ở lại đây nữa?”. Vong Thuyên nói cây đàn của phú thương vẫn chưa có được, nên chưa thể rời đi. Cô gái cười nói: “Đi thôi, đừng lo lắng”. Sau đó, từ chỗ góc tường, nàng ta lấy ra một chiếc hộp nhỏ, từ trong hộp lấy ra y phục, mũ và giày của đạo cô mặc vào, rồi giục Vong Thuyên đi mau. Hai người mở cửa sau và đi ra ngoài.

Giữa đường hai người ghé vào một quán xá mua đồ ăn, trong quán có một đạo nhân ngồi đó. Vong Thuyên hành lễ và bắt đầu chuyện  trò cùng đạo nhân. Hai người bàn luận say sưa về chỗ huyền diệu cao thâm của nghĩa lý đạo pháp. Vong Thuyên mời đạo nhân cùng uống rượu, cô gái liền né tránh. Lúc này, đạo nhân nói nhỏ với Vong Thuyên: “Vị đạo cô trẻ tuổi đi cùng anh không phải là người. Đêm nay khi ngủ cùng, ta sẽ làm phép bên ngoài cửa, anh nhất định phải ôm chặt nàng ta chớ có buông tay”.

Đêm hôm đó, Vong Thuyên đã làm theo lời của đạo nhân, kết quả thứ mà ông ôm giữ trong tay lại là một cây đàn, chính là cây Xuyên Vân cầm mà vị phú thương cất giữ cẩn thận. Vong Thuyên mừng khôn tả xiết, bèn đưa cho đạo nhân xem. Đạo nhân nói: “Đây là cây đàn mà Dương Quý Phi để lại, khi truyền đến vua Lý Tông nhà Nam Tống thì bị đem làm vật bồi táng, về sau bị Dương Liên Chân Già đào trộm mộ có được, lưu lạc đến nay, chỉ có anh mới có thể trấn được nó. Từ đây có thể thấy, thần vật xưa nay, cuối cùng ắt sẽ không rơi vào trong tay phàm phu tục tử! Nhưng anh sau này cũng không thể đến Lao Sơn nữa”. Vong Thuyên nghe đạo nhân nói như vậy, như từ trong mộng tỉnh lại, bèn đứng dậy tạ ơn lần nữa, rồi mang theo cây đàn vào núi Trung Nam, không bao giờ trở lại nữa.

Đạo sĩ Vong Thuyên, thân là một người tu hành, đã phạm sắc giới, đây mới là điều nghiêm trọng nhất. Ngày xưa, trong các pháp môn tu Đạo, một khi phạm sắc giới, thì sẽ bị đuổi khỏi sơn môn, không thể tu hành được nữa. Người tu hành là tu điều gì đây? Chẳng phải chính là xem nhẹ, rồi buông bỏ tâm chấp trước, phản bổn quy chân sao. Sở dĩ Vong Thuyên có thể tinh thông cầm nghệ, có thể lĩnh hội được những thứ siêu việt thế gian, kỳ thực đều là năng lực siêu thường được triển hiện ra sau khi người ta đã tu luyện đến một trình độ nhất định.

Phật gia giảng rằng, vạn vật đều có linh tính, người xưa cũng giảng rằng, cổ vật mà để thời gian lâu thường sẽ “thành tinh”. Một mặt, chấp trước mạnh mẽ của Vong Thuyên đã chiêu mời yêu tinh; mặt khác, nhìn từ tầng diện thời gian và không gian lâu dài hơn và cao sâu hơn, không biết chừng giữa Vong Thuyên và cầm tinh này có nhân duyên sâu xa gì đó, vậy nên đạo nhân mới nói, “ngoài anh ra, không ai có thể trấn được cây đàn này” Tuy nhiên, do vậy mà phạm giới, hủy mất đạo hạnh của mình, thật là điều cực kỳ đáng tiếc.

Không biết sau này Vong Thuyên có hạ quyết tâm và bắt đầu tu luyện lại từ đầu hay không, liệu ông có thể giữ vững tâm tính, nhất chính áp bách tà, buông bỏ chấp trước vào cây đàn hay không, nếu thế thì cây đàn này trở thành “pháp khí” của ông cũng là điều hợp lẽ.

Theo Huệ Minh, Sound of Hope
Vũ Dương biên dịch

Từ Khóa: