Đức và Nghiệp là gì? Tại sao người ta thường nói tránh những việc gây ‘tổn đức, thất đức’? Tại sao phải hành thiện, tích đức? Luân hồi trong Phật giáo như thế nào? Chết có thật sự là hết không?

Ngay từ lúc còn tuổi thơ, trong đầu tôi luôn tồn tại nhiều câu hỏi… Mình có thể sẽ là một con chó hay một con bò không? Linh hồn có tồn tại không? Linh hồn có chuyển sinh vào cơ thể khác hay động vật khác không? Rốt cuộc sự chuyển sinh và luân hồi có phải là một không… khác biệt với tái sinh như thế nào? Nghiệp hay nghiệp chướng là gì, có giống với định mệnh không?

Nhân sinh như mộng! Để sống một kiếp người có ý nghĩa thật khó lắm thay…

Quan niệm sai lầm về luân hồi

Có một quan niệm phổ biến về luân hồi: Kiếp sống như là một chuỗi dài dựa theo nhân – quả. Nôm na là: Một người có thể đã trải qua vô số kiếp, trong lục đạo luân hồi… Rồi kiếp này được sinh ra làm người. Kiếp sau lại trở thành động vật, tùy thuộc vào thái độ đối đãi hành xử của con người ta khi sống.

Thời nay người ta không lý giải được quan niệm trên, bởi từ nhỏ học theo khoa học thực chứng, họ cho rằng: “điều gì thấy mới tin, không thấy thì không tin”. Bởi vậy người hiện đại không kiểm chứng được linh hồn… không dám tiếp xúc với những điều siêu thường. Nên coi lục đạo luân hồi chỉ là bài học đạo đức để người xưa không dám hành ác; là những câu chuyện ngụ ngôn thần thoại để dẫn dắt người ta tiếp cận với chân lý.

Phật Thích Ca từng giảng tu Phật có 8 vạn 4 nghìn pháp môn và Phật Như Lai nhiều như số cát sông Hằng… Để tu thành Phật Như Lai thì cần học thông pháp lý ở cao tầng – khoa học siêu thường – Thần học. Luân hồi là một trong những pháp lý liên quan tới hành trình của sinh mệnh ở dạng tinh thần (năng lượng); siêu vượt khỏi những quy tắc vật lý liên quan tới cơ thể vật chất.

Luân hồi trong Phật giáo

Theo Phật giáo, nguyên nhân trói buộc trong luân hồi là tam độc – ba tâm độc hại chết con người: tham, sân, si. Lại tùy thuộc vào nghiệp lực của mỗi người đã gây ra trong quá khứ mà chúng sinh đó sẽ phải chuyển sinh trong lục đạo luân hồi (sáu cõi): cõi Trời, cõi Thần (a-tu-la), người, súc sinh, quỷ đói (ngạ quỷ), địa ngục. Trong Đại Thừa Phật giáo, luân hồi được xem là thế giới của hiện tượng và thể tính của nó chính là thể tính của Niết bàn.

Sau khi chuyển (tái) sinh, phần lớn các chúng sinh sẽ không còn nhớ gì về kiếp trước đó. Các chúng sinh sẽ có một cuộc đời mới. Việc chúng sinh sẽ chuyển (tái) sinh vào cõi nào sau khi chết có thể dự đoán được nếu quan sát cận tử nghiệp.

Ảnh: Shutterstock

Ngày nay người ta thấy khó hiểu và dần coi luân hồi là một bài học giáo huấn đạo đức, thêm vào đó là những cám dỗ của danh lợi tình khiến cho người ta không còn muốn tin vào luân hồi nữa. Nếu thoát khỏi ý nghĩa bề mặt câu chữ có thể sẽ hiểu được những triết lý sâu xa… Câu hỏi là “sao không nói trắng ra để người ta có thể dễ dàng hiểu rõ?”. Có thể là mục đích không phải để người ta dễ dàng hiểu rõ… Có thể là pháp lý siêu thường nằm ngoài hiểu biết thông thường.

Đức và nghiệp là nguồn gốc của luân hồi trong Phật giáo

Nghiệp (nghiệp lực hay ác nghiệp) và đức (đức hạnh hay là phúc đức) có tồn tại vật chất và đồng hành cùng sinh mệnh. Tùy theo thái độ hành vi của con người ta mà sẽ sản sinh ra ‘đức’ hay ‘nghiệp’; và giữa chúng có mối quan hệ chuyển hóa qua lại. Sự vận hành này không chỉ theo nghĩa cơ học bề mặt vật chất mà còn ở mức vi tế hơn. Phật gia giảng “thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo” là có bao hàm ý này.

Khi con người làm gì đó, luôn tồn tại việc tốt và việc xấu. Làm việc tốt sẽ tích được đức, làm việc xấu sẽ tích nghiệp lực. Hai chủng vật chất này không mất đi mà chuyển hóa qua lại thông qua các hành vi ứng xử. Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng là một trong những phương diện nhỏ minh chứng cho điều này.

Phân biệt Đức và Nghiệp với số phận của con người

Cần phân biệt đức – nghiệp và số phận của một cá nhân. Số phận đường đời được sắp đặt bởi tạo hoá và vượt ngoài tầm kiểm soát của con người. Còn nghiệp và đức thì lại tuỳ thuộc vào hành vi và hành vi thông thường được quyết định bởi ý thức. Trong Kinh Pháp Cú có giảng “Điều mà ta nhận được (quả) phụ thuộc vào suy nghĩ (nhân). Nó được hình thành bởi suy nghĩ”. Do vậy, một người trở nên cao quý hay thấp hèn chủ yếu phụ thuộc vào suy nghĩ của họ. Và suy nghĩ được biểu đạt bằng hành vi có tính tích cực hay tiêu cực.

Cõi giới

Phật giáo giảng về 10 cõi chúng sinh: Cao nhất là Phật rồi đến Bồ Tát, Bích Chi Phật (Duyên Giác); Thanh Vân; Cõi Trời; Cõi người, A-tu-la; súc sinh; ngạ quỷ và địa ngục.

Sau khi Phật Thích Ca niết bàn hàng trăm năm mới có Kinh sách Phật giáo. Thật khó cho những người học Phật hàng trăm năm sau có thể hiểu được nội hàm của Phật pháp do hoàn cảnh đã không còn, ngôn ngữ cũng đã thay đổi… Rất nhiều người không hiểu được pháp lý và cảnh giới tư tưởng của Phật nên đưa ra những lời giải thích nông cạn đơn giản kiểu như:

“Mười cõi chúng sinh không có ranh giới cụ thể, là bao gồm lẫn nhau. Nói cách khác, mỗi cõi trong đó bao gồm chín cõi còn lại. Ví dụ, cõi người có tất cả chín trạng thái khác từ địa ngục đến Phật vị. Con người trong ích kỉ, tự tư, dối trá sẽ tạo ra địa ngục của chính mình. Ngược lại, Thiện lương, Chân thành, Nhẫn nại phản ánh sự từ bi của Phật Đà. Các vị Phật cũng có chín cảnh giới khác trong tâm trí họ. Bởi vì để cứu độ những người trong địa ngục thì Ngài cũng phải hiểu nỗi khổ của chúng sinh. Qua đó, Ngài sẽ hướng dẫn họ tu luyện để tìm ra con đường giác ngộ”.

Ảnh: Shutterstock

Những bài học giản đơn rút ra từ những nhận thức đơn giản

Hiểu được luân hồi, sẽ hiểu được ý nghĩa của sinh mệnh, khiến cho tư tưởng và đạo đức thăng hoa.

Khao khát danh, lợi, tình, thù thì tâm tính đã đang ở trong cõi Ngạ quỷ;

Khao khát thú vui xác thịt, tâm tính có khác chi cầm thú.

Chân thành, thiện lương và đại nhẫn từ bi thì là cảnh giới của Thần.

Cõi người chính là ở trung tâm của 10 cõi chúng sinh.

Vì vậy, con người có thể trượt xuống hoặc thông qua tu luyện để đề cao cảnh giới sinh mệnh.

Luân hồi chuyển kiếp, nhân sinh lắng đọng

Luân hồi là điều mà chúng sinh trong Tam giới đều phải trải qua. ‘Nghiệp’ và ‘đức’ là nguồn gốc của luân hồi. Luân hồi là để cân bằng giữa nghiệp và đức. Việc lựa chọn, quyết định cảnh giới của sinh mệnh tùy thuộc vào nghiệp và đức của mỗi cá nhân. Sống Chân thành, Thiện lương, Nhẫn nại làm người tốt và tốt hơn nữa là lựa chọn sáng suốt của sinh mệnh.

Theo Nguyện Ước