Hang Mạc Cao – tức chùa hang đá ở bên trên sa mạc – là nghệ thuật Phật giáo tinh xảo và tuyệt đẹp nhất trong số các hang đá ở Đôn Hoàng. Sau khi hòa thượng Lạc Tôn đào hang đá đầu tiên, thiền sư Pháp Lương tiếp tục xây hang đá ở bên cạnh, sau đó ngay lập tức bùng nổ hàng loạt các hoạt động tạc tượng đục hang đá rộng rãi của những người tu hành và cả giới quý tộc giàu có cho đến bình dân…

Loạt bài dài kỳ: Đôn Hoàng tầm mộng

Hang đá của hai cao tăng từ lâu đã bị che khuất trong lớp cát bụi bên ngoài Vạn Lý Trường Thành, diện mạo nguyên thủy nhất của hang đá Đôn Hoàng chỉ còn dừng lại trong trí tưởng tượng đầy tiếc nuối của người đời. Còn hành động tiên phong của họ thì được khắc trên tấm bia ở bàn thờ Phật: “cà lam chi khởi, lạm trường vu nhị tăng” (khởi đầu nơi tu tập của tăng chúng, bắt nguồn từ hai vị cao tăng), thì lại được lưu truyền mãi về sau.

Các tu sĩ đều mong muốn tìm kiếm chân pháp, vãng sanh cực lạc, phát nguyện sẽ tĩnh tâm khổ tu trong vách đá cheo leo. Những gia tộc giàu có quyền quý là vì muốn duy trì sự vinh quang của gia tộc, người dân bình thường thì vì phúc báo của kiếp này và kiếp sau, tất cả họ đều không hẹn mà tự tìm đến đây, cùng nhau liên tục xây dựng, sáng tạo ở gần hang đá của hòa thượng Lạc Tôn và thiền sư Pháp Lương, để thể hiện lòng tín ngưỡng và tôn kính của mình với Thần linh.

Trong số các hang đá ở Đôn Hoàng còn tồn tại đến ngày nay, hang đá có niên đại sớm nhất chính là ba di tích trong hang đá Mạc Cao được xây vào thời kỳ Bắc Lương, tức hang 268, 272 và 275. Trong những năm tháng thống trị Hà Tây vô cùng vững chắc, Thư Cừ Mông Tốn liên tục mở rộng hang đá, liên tục duy hộ cho sự hưng thịnh của Phật Pháp, những ngôi chùa hang đá cũng nở rộ khắp nơi trên các vùng đất dài hẹp tự nhiên. Vậy thì, hang đá Lương Châu có diện mạo như thế nào? Và hang đá Đôn Hoàng vào thời kỳ Bắc Lương có diện mạo độc đáo ra sao?

Mô hình hang đá vào thời Lương Châu

Mô hình hang đá của Lương Châu rất giống với hang đá Mạc Cao, hang đá ở núi Thiên Thê được xem là tổ tiên đầu tiên cũng không thể khôi phục diện mạo của năm xưa. Núi Thiên Thê nằm ở ngay vùng địa chấn, mấy ngàn năm qua sự phá hủy của vô số lần địa chấn, đến ngày nay chỉ còn lại mười mấy di tích đổ nát, thứ duy nhất được giữ gìn hoàn chỉnh chính là tượng Phật lộ thiên và tượng của các đệ tử Phật giáo trong hang 13 vào thời nhà Đường.

Bích họa Bắc Lương được phát hiện trong hang đá số 4 trên núi Thiên Thê. (Phạm vi công cộng)

Trong quá trình di dời và phục chế suốt mấy chục năm, các học giả Trung Quốc bất ngờ phát hiện ra mấy bức tượng Bồ Tát của Bắc Lương đã bị hư hoại, bị che phía dưới bích họa của đời sau. Hình tượng của mấy bức tượng Bồ Tát này không giống với hình tượng Bồ Tát được lưu hành khắp Trung Nguyên. Mấy bức tượng Bồ Tát này mũi cao mắt sâu, hình thể đầy đặn, tư thế giàu biểu cảm, thể hiện phong cách của Ấn Độ, Tây Vực nhiều hơn.  Việc phát hiện ra bích họa của Bắc Lương đã vén mở được một góc nhỏ thần bí về kiểu dáng Lương Châu.

Nhìn lại Lương Châu, vẫn còn có một số kiệt tác hang đá vào thời của Thư Cừ Mông Tốn, có lẽ chúng có thể ghép ra được phong cách nghệ thuật tương đối hoàn chỉnh của hang đá Lương Châu. Quần thể hang đá chùa Mã Đề nằm ở Túc Nam, tỉnh Cam Túc là quần thể hang đá có thành tựu nghệ thuật cao nhất trên Kỳ Liên Sơn, trong đó chùa Kim Tháp được xây dựng vào thời kỳ Bắc Lương, tuy chỉ có hai hang đá ở phía đông và tây, nhưng bảo tồn được mô hình hang đá kinh điển của Lương Châu, là báu vật của nghệ thuật hang đá Phật giáo đầu tiên.

Đi vào hang đá của chùa Kim Tháp, đầu tiên người ta sẽ vô cùng kinh ngạc trước những hình ảnh khắc họa về Thần Phật ngập tràn bên trong, cùng với nhiều màu sắc trộn lẫn vô cùng trang nghiêm, sau đó sẽ cảm thấy tò mò về kết cấu độc đáo bên trong hang. Hai hang đá này đều có hình dạng của một cái tháp trung tâm, tức là một tháp Phật hình trụ vuông đứng ở giữa trung tâm hang đá. Đây là mô hình hang động kinh điển nhất của Phật giáo trong thời kỳ đầu, hành giả ở bên trong hang có thể đi nhiễu quanh cột trụ để nhìn ngắm tượng, chủ yếu dùng cho hoạt động tôn giáo như lễ bái, cúng dường v..v.., còn gọi là tháp miếu quật (hang tháp chùa).

Tháp trung tâm của chùa Kim Tháp, bốn bức tường được chia làm ba tầng với các hốc nhỏ để tạo tượng, toàn bộ bức tường đều là các bức tượng điêu khắc dùng đất đỏ và đá xanh làm màu chủ đạo, tư thế và trang phục của các vị Phật, Bồ Tát sinh động như thật, trụ tháp được trang trí vô cùng lộng lẫy. Ở phía dưới cùng của mỗi một mặt tháp trụ, bên trong hốc đá đều điêu khắc một vị Phật ngồi khoanh chân, tay kết ấn, thần thái an nhiên, bên ngoài hốc đá điêu khắc các đệ tử của Phật và Bồ Tát. Hai tầng bàn thờ Phật ở phía trước, bố cục hơi nhỏ, phía trong hốc đá cũng có tượng của một vị Phật đang ngồi.

Đây là tháp trụ trung tâm của chùa Kim Tháp. (Phạm vi công cộng)

Độc đáo nhất là các tượng Thiên nữ lơ lửng ở hai bên vòm hốc đá, sử dụng nghệ thuật “điêu khắc thịt cao” trong điêu khắc sáng tạo thành, hơn một nửa người chồm ra ngoài hốc, toàn bộ cơ thể tạo thành hình chữ V, tạo cảm giác đơn giản bình dị. Tuy nhiên, họ mỉm cười sinh động, hai tay đưa ra, phần lưng cong xuống, trang phục tung bay, nhìn vừa giống như đang nhảy múa, vừa giống như đang tiếp dẫn chúng sinh, cùng với các vị Phật đang thiền định thể hiện ý cảnh an nhiên trong nhất cử nhất động. Những bức tượng điêu khắc Thiên nữ trong chùa Kim Tháp là báu vật độc nhất vô nhị trong nghệ thuật hang đá của Trung Quốc, được các học giả gọi là “tinh hoa của Thiên nữ phương Đông”.

Ở Túc Nam còn có một hang đá trên núi Văn Thù, trong đó “tiền sơn thiên Phật động” bảo tồn được mô hình của tháp trụ trung tâm, cũng là một hang đá thuộc về di sản quý giá của hang đá Lương Châu. Bốn bức tường bên trong hang toàn là hình vẽ, sử dụng “phương pháp tán màu của Tây Vực” sáng tác ra tượng Ngàn Phật, vì đã trải qua quá nhiều năm nên tượng đã phai màu, rất nhiều vị trí trên các bức tượng đều hiện ra diện mạo đặc trưng của “đốm đen”. Phương pháp tán màu của Tây Vực là một kỹ thuật vẽ từ nhạt đến đậm, tán từng lớp theo hình vòng tròn để tạo được hiệu quả lồi lõm trên cơ thể nhân vật khiến hình tượng nhân vật trở nên có hình thái như không gian ba chiều.

Những họa sỹ thuần thành của hơn một ngàn năm trước đã dùng những đường nét đơn giản chắc chắn và cách pha màu đậm để khắc họa hình ảnh các vị Thần trong tim họ. Ngàn Phật khoác trên người chiếc áo cà-sa hở vai, Bồ Tát uyển chuyển trang nghiêm, Thiên nữ khỏe đẹp sinh động. Kết hợp với điêu khắc màu của hang đá Lương Châu, chúng ta sẽ phát hiện các vị Thần Phật đều là hình tượng tuyệt đẹp với mũi cao mắt to, khuôn mặt tròn trịa đầy đặn, cơ thể cường tráng, mọi động tĩnh đều trang nghiêm, những hình tượng này dường như đến từ một Thiên giới xa lạ và truyền bá phúc âm cho tất cả chúng sinh ở phương Đông.

Thiền sư Đôn Hoàng

Vào thời kỳ Bắc Lương, Phật pháp được truyền bá rộng rãi, các ngôi chùa mọc lên khắp nơi, trong thành Đôn Hoàng lại xuất hiện một vị cao tăng thần kỳ. Ngài có bộ dạng rất đặc biệt, hai chân mày dính lại với nhau, mọi người đều tôn kính ngài và gọi ngài là “thiền sư Liên Mi”, nghĩa là vị thiền sư có chân mày nối liền nhau. Ngài đến từ nước Kế Tân ở Tây Vực, pháp danh là Đàm Ma Mật Đa (Dharmamitra). Khi ngài còn nhỏ, mỗi lần có Phật sự gì, ngài đều hoan hỷ tham gia, năm lên bảy đã xuất gia tu hành, sau đó đọc rất nhiều kinh sách, tinh thần giáo lý Thiền của ngài, được mọi người tôn kính và ngưỡng mộ.

Đàm Ma Mật Đa chọn một nơi yên tĩnh rộng rãi trong hoang mang ở bên ngoài thành Đôn Hoàng, chuẩn bị xây chùa, giảng giải Phật pháp cho mọi người. Đây là bích họa “Đại Phật Quang Tự” trên bức tường phía tây của hang 61 thời kỳ Ngũ Đại của hang Mạc Cao – Đôn Hoàng. (Phạm vi công cộng).

Vị thiếu niên cao tăng này, từ lâu đã phát thệ nguyện hoằng dương Phật pháp, nhiều năm vân du qua khắp các nước Tây Vực. Khi ngài đi ngang qua nước Quy Từ, không ngờ lại có Thần linh báo mộng nói cho quốc vương nước Quy Từ biết rằng, sắp có một người có công đức sâu dày sẽ đến nước của họ, nhất định phải thành tâm cúng dường vị ấy. Quốc vương nước Quy Từ đích thân đi ra vùng ngoại ô để chờ đợi sự xuất hiện của cao nhân, cuối cùng cũng gặp được Đàn Ma Mật Đa, thế là quốc vương cung kính nghênh đón ngài vào cung, cung cấp mọi loại cúng dường. Tuy nhiên Đàn Ma Mật Đa không bị ảnh hưởng bởi bất cứ tác động nào, mấy năm sau ngài tiếp tục đi về hướng Đông. Trước khi đi, Thần linh lại báo mộng với quốc vương: Người có phước đức lớn sắp rời bỏ ngài mà đi rồi.

Đàm Ma Mật Đa cũng giống như hòa thượng Lạc Tôn, đi xuyên qua sa mạc sau đó đến Đôn Hoàng. Ngài phát hiện ra rằng, nơi đây mới là mảnh đất lý tưởng để hoằng pháp, từ đó liền ở lại nơi này. Ngài lựa chọn một mảnh đất yên tĩnh và rộng rãi trong hoang mạc ở bên ngoài thành, chuẩn bị xây chùa để giảng giải Phật pháp cho mọi người. Vì ngài là cao tăng của Tây Vực nên người Đôn Hoàng tranh nhau cúng dường, ngôi chùa của Đàm Ma Mật Đa được xây xong rất nhanh, lầu các điện thờ, vườn tược ao hồ đều vô cùng trang nghiêm sạch sẽ.

Vì để thu hút thêm nhiều tín đồ ở trong sa mạc, Đàm Ma Mật Đa dẫn theo các đệ tử đi trồng hơn một ngàn cái cây ở xung quanh chùa, không chỉ khiến ngôi chùa trở nên đẹp hơn, mà còn có tác dụng ngăn được gió cát thổi vào chùa. Quy mô của ngôi chùa này càng lúc càng lớn, các khoản chi tiêu và đồ dùng hàng ngày gia tăng, Đàm Ma Mật Đa lại khai hoang hơn một trăm mẫu ruộng ở gần chùa, canh tác trồng trọt để bù vào chi phí sinh hoạt của chùa. Chỉ trong một thời gian ngắn, các đệ tử tụ tập về bên Đàm Ma Mật Đa vô cùng đông đúc, Thiền học trở nên hưng thịnh tại Đôn Hoàng.

Lúc này cũng diễn ra thời kỳ tạo tác hang đá Mạc Cao cực kỳ hưng thịnh, Đàm Ma Mật Đa tập hợp các tu sĩ lại cùng tham gia vào hoạt động đục hang và tạo tượng. Người đời sau suy đoán rằng, ba hang đá Bắc Lương trong hang Mạc Cao rất có thể là hang công đức của Đàm Ma Mật Đa, hang 275 có tượng cúng dường của ngài, rất nhiều phòng thiền trong hang 268 là nơi dành cho Đàm Ma Mật Đa hành thiền.

Ba hang đá của thời kỳ Bắc Lương

Ba hang đá xây dựng vào thời kỳ Bắc Lương trong hang Mạc Cao, giống với hang đá nổi tiếng cùng thời, nhưng lại có phong cách khác nhau, điều này khiến người ta cảm thấy rất khó hiểu.

(Đây là tượng vẽ trên tường phía tây trong hang 268 vào thời kỳ Bắc Lương của hang Mạc Cao – Đôn Hoàng. (Phạm vi công cộng)

Tĩnh thất tu thiền: Hang 268 nguyên thủy nhất của hang Mạc Cao

Đây là một hang đá hẹp nhỏ có nhiều mật thất, thất chính chỉ cao bằng chiều cao của một người, rộng hơn một mét, hai bên nam bắc đều đục khoét bốn thất nhỏ, bên trong có giường ngồi thiền, chỉ đủ cho một người ngồi. Mô hình này được bắt nguồn từ Ấn Độ, chuyên dành cho tu sĩ ngồi thiền tu hành, gọi là “thiền quật” (tức hang thiền). Năm xưa khi Phật Thích Ca Mâu Ni tu khổ hạnh, chính là ở trong hang động đơn giản như vậy, ngồi tư thế kiết già, chứng ngộ Phật pháp. Còn hang đá Lạc Tôn xuất hiện sớm nhất tại Mạc Cao cũng là một loại thiền quật, tuy là không được nhìn thấy, nhưng hang 268 bảo lưu được mô hình nguyên thủy nhất của hang đá.

Nhìn kỹ hang 268, cấu tạo của căn thất chính là mái bằng hình chữ nhật, căn thất nhỏ là mái bằng hình vuông. Nổi bật nhất là bàn thờ Phật ở bức tường phía tây, chính giữa có tượng Phật ngồi bắt chéo chân, dung mạo đoan trang trầm lắng, có đặc điểm của Tây Vực: Thân khoác cà-sa màu đỏ để lộ vai bên phải, chất vải mỏng nhẹ dính vào người.

Hốc tường và ngoài hốc dùng phương pháp tán màu của Tây Vực để khắc họa thiên nữ, Bồ Tát. Thiên nữ khoác khăn dài, mặc váy dài, thân hình uốn cong thành hình chữ V với hai tay đưa ra, tư thế sinh động. Bồ Tát đội vòng hạt ngọc, mặc y áo dài, hai tay chắp lại, quỳ ở trên đài hoa sen, thần thái an nhiên tự tại. Phía dưới bức tường có vẽ người cúng dường mặc quần áo nhà Hán và quần áo người Hồ, thân hình nhỏ bé, tuy là mờ nhạt không nhìn thấy rõ nữa, nhưng vẫn cảm nhận được không khí cung kính trang nghiêm.

Phần đỉnh bằng phẳng được trang trí hình vuông bằng phương pháp đắp nổi, điểm xuyết thêm các hoa văn như hoa cỏ, đốm lửa, ở bốn góc cũng có vẽ hình ảnh Thiên nữ.

Đây là tượng Phật trong bàn thờ Phật ở bức tường phía tây trong hang 272 thời kỳ Bắc Lương của hang Mạc Cao – Đôn Hoàng. (Phạm vi công cộng)

Động tĩnh tương sinh: Hang Mạc Cao thứ 272 lễ Phật cúng dường

Bên trong hốc chính giữa ở bức tường phía tây trong thiền thất chính của hang 271 có một bức tượng Phật ngồi, dung mạo và trang phục giống với tượng Phật chính của hang 268, cách biểu hiện tinh tế hơn. Trên áo có những đường nét phồng lên, biểu hiện cảm giác nềm mỏng bồng bềnh của chất liệu vải. Bức tường trong hốc có vẽ  “hoa văn Thiên nhân, ngàn Phật và đốm lửa” ở phần nền phía sau tượng Phật, tượng trưng Phật pháp vô biên, hóa sinh vạn vật. Những Thiên nữ ở trong phần nền là vị trí mà Thiên nữ Đôn Hoàng xuất hiện sớm nhất.

Phật Pháp phổ độ chúng sinh, cùng với dòng chảy của thời gian, càng ngày càng nhiều người lắng nghe Phật pháp, tắm ánh sáng của Phật Pháp, hang Mạc Cao dần dần xuất hiện những hang động chuyên dùng để cúng dường lễ Phật. Phong cách của hang Mạc Cao dần dần biểu hiện ra sự thay đổi tuyệt đẹp từ hẹp đến cao lớn, đơn sơ đến phong phú, mộc mạc đến tinh sảo.

Cúng dường tượng Bồ Tát ở hai bên bàn thờ Phật là đặc điểm thu hút lớn nhất. Hình ảnh cúng dường xuất hiện trong bích họa Đôn Hoàng ở các giai đoạn khác nhau. 40 vị Bồ Tát ở trong này, mỗi bên là bốn hàng, mỗi hàng là 5 vị được phân chia rất đồng đều, những vị ấy hoặc ngồi hoặc quỳ, cong lưng quỳ gối, giống như đang nhảy múa và cũng giống như đang luyện công, tư thế không giống nhau, mang phong cách của Ấn Độ.

Nhìn tổng thể, hình ảnh tĩnh lặng vô cùng cảm động, ngập tràn không khí hoan hỷ và náo nhiệt. Nhìn kỹ mỗi một vị Bồ Tát, tuy rằng hình tượng trong các bức họa dưới đường nét bị biến màu nghiêm trọng đã trở nên rất mờ, nhưng tỷ lệ rất cân đối, ngũ quan và thần thái vô cùng ôn nhu và tinh tế, biểu hiện ra ý nghĩa trầm tĩnh thản nhiên.

Hai bức tường bắc nam của quật thất là thuyết pháp đồ và bích họa Ngàn Phật. Phật giáo cho rằng đức Phật là sư tử trong loài người, vì vậy trong thuyết pháp đồ có vẽ phía dưới chỗ ngồi của đức Phật là một con Thần thú sư tử đầu tròn bờm dài, đây là hình ảnh sư tử xuất hiện đầu tiên trong bích họa Đôn Hoàng. Phía bên ngoài đức Phật là tượng Ngàn Phật, dùng màu trắng, xanh, lục pha màu làm màu chủ đạo, thể hiện ý cảnh “Phật nối tiếp Phật, ánh sáng nối tiếp ánh sáng”. Phía trên quật thất cũng có hình ảnh thiên nữ và hoa cỏ.

Đây là câu chuyện “Xuất Du Tứ Môn” trên bức tường phía nam của hang 275 vào thời kỳ Bắc Lương của Hang Mạc Cao – Đôn Hoàng. (Phạm vi công cộng)

Sự tích đức Phật: Hang Mạc Cao thứ 275 tiếp xúc các nguyên tố Trung Hoa

Hang 275 được trang trí khá tinh tế và lỗng lẫy, tượng Phật được đặt ở bức tường phía tây của căn thất chính, là một bức tượng Bồ Tát Di Lặc ngồi bắt chéo chân, vui vẻ mỉm cười, bảo vệ mảnh đất này. Hai bức tường nam và bắc cũng đục hốc tạo tượng, có nặn tượng Bồ Tát Di Lặc và Bồ Tát Tư Duy. Điều đặc biệt là, trên một số bàn thờ Phật đều có điêu khắc trang trí mái hiên nhỏ, bắt chước hình tượng “khuyết” (cột tháp) trong kiến trúc truyền thống của Trung Nguyên.

Khuyết chính là thiếu sót, chỗ trống ở giữa tạo thành một lối đi. Bàn thờ hình khuyết tượng trưng cho thiên cung Đâu Suất – nơi ở của Bồ Tát Di Lặc, sự xuất hiện của nó phản ánh hang Mạc Cao bắt chước phong cách tạo tượng của Tây Vực, đã bắt đầu tiếp xúc nguyên tố bổn thổ của Trung Hoa.

Vì để cho mọi người dễ dàng hiểu Phật Pháp hơn, trong hang 275 lần đầu xuất hiện Phật Bổn Sanh (câu chuyện tiền kiếp của đức Phật) và bích họa Phật truyền (Phật Thích Ca Mâu Ni truyền ký).

Chính giữa bức tường phía nam ở căn thất chính có tranh vẽ mô tả câu chuyện về Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn là Thái tử. Sau khi thành hôn, Thái tử không đam mê hưởng lạc, mà chỉ một lòng hướng đến tu hành, quốc vương vì chuyện này mà lo lắng không yên, ra lệnh cho Thái tử ra ngoài dạo chơi, hy vọng cắt đứt được suy nghĩ xuất gia của Ngài. Khi thái tử bước ra khỏi cổng thành, ra cửa đông nhìn thấy người già, ra cửa nam nhìn thấy người bệnh, ra cửa tây nhìn thấy người chết, ra cửa bắc nhìn thấy tu sĩ. Thái tử thở dài trước nổi khổ sinh lão bệnh tử của thế gian, càng tăng thêm lòng quyết tâm tu hành.

Toàn bộ câu chuyện được thể hiện bằng hình thức tranh liên hoàn hàng ngang, kỹ thuật vẽ nhân vật, trang phục đều thể hiện nét đặc trưng của Tây Vực. Hiện nay phần được bảo tồn tương đối tốt là tình tiết gặp người già và gặp tu sĩ, trong đó người cưỡi ngựa là Thái tử, bên trái là ông lão râu tóc bạc phơ, khom lưng bước đi, bên phải là tu sĩ thần thái ung dung, khỏe mạnh thoát tục, hai người này hình thành một sự tương phản mới mẻ, trên bích họa còn khắc tượng các thiên nữ tấu nhạc, nhảy múa trong khoảnh khắc chứng kiến Thái tử triệt ngộ.

Chính giữa tường phía bắc vẽ câu chuyện tiền kiếp của đức Phật, bao gồm các tình tiết như Vua Tỳ Lăng Kiệt Lê bị đóng một ngàn chiếc đinh lên người, vua Kiền Đồ Ni Bà Lê cắt người thắp sáng một ngàn ngọn đèn, vua Thy Bì cắt thịt cho bồ câu ăn, vua Nguyệt Quang bố thí đầu, vua Khoái Mục bố thí mắt, tất cả đều là kể về sự tích xả thân hành thiện trong các kiếp quá khứ của Phật Thích Ca Mâu Ni. Những câu chuyện này đều có cùng một điểm chung, chính là nhấn mạnh đức Phật tự nguyện hy sinh, tinh thần kiên nhẫn vô úy, đây là phẩm chất cần có của người tu hành để đi đến thành tựu viên mãn.

Đi vào bên trong hang đá, ngước nhìn những tấm bích họa này, bất luận là ai đi nữa, cũng đều bị rung động trước những hình ảnh sống động như thật vậy, từ đó xem nhẹ sự chấp trước vào sinh tử và họa phúc đối với đời người, mang ý chí xả thân tu Phật để tiếp tục kiên định trên con đường tu hành của mình.

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch