Loạt bài dài kỳ: Đôn Hoàng tầm mộng

Có một cái bóng mặc áo cà-sa, tay cầm Tích trượng từ từ đi vào bên trong thành Đôn Hoàng. Pháp danh của vị ấy là Lạc Tôn, là một vị Sa môn quyết chí tu hành. Trên người đầy bụi bặm gió sương, ông đã đi qua vô số thành thị, núi rừng, từng chứng kiến mọi sự phồn hoa và tồi tàn nơi nhân thế, ông chưa từng dừng lại, vẫn tiếp tục hành trình của mình, chỉ vì mong tìm kiếm được một nơi thanh tịnh để tu hành và chứng ngộ Phật pháp…

Năm đó là năm Kiến Nguyên thứ hai của Tiền Tần (năm 366). Tiền Tần là quốc gia lớn mạnh nhất trong thời kỳ thập lục quốc. Phù Kiên của Đê tộc (người Đê) dùng quan niệm nhân nghĩa của Nho giáo để trị vì đất nước, thống nhất phía bắc Trung Nguyên trong thời đại các hào kiệt tự chiếm cứ lãnh thổ riêng cho mình, mở ra một thời đại phồn hoa thịnh thế. Mà kỳ tích của Đôn Hoàng chính là được bắt đầu trong thời đại tuyệt vời này.

Vào một buổi hoàng hôn, khi Lạc Tôn đi qua suối đá nằm dưới thung lũng, rồi đi đến núi Tam Nguy và chân núi Ô Sa. Trên đỉnh núi Ô Sa đột nhiên sáng rực ánh sáng màu vàng chiếu rọi vào ông. Ánh sáng màu vàng đó sáng đến chói mắt, phóng thẳng lên trời, trong ánh sáng đó có pháp tướng từ bi trang nghiêm của một ngàn vị Phật. Tu sĩ Lạc Tôn tìm kiếm khổ cực trên đường đi, cuối cùng có được sự chỉ dẫn của đức Phật, ông đã chứng kiến phép lạ thù thắng vi diệu.

Tu sĩ Lạc Tôn liền hiểu ra, đây chính là thánh địa để tịnh tu theo Phật Pháp mà ông vẫn luôn tìm kiếm. Thế là, ông đã đục một hang đá ngồi thiền đầu tiên ở trên vách núi Ô Sa. Đây chính là duyên khởi của Hang Mạc Cao và toàn bộ hang đá ở Đôn Hoàng.

Phật pháp dần truyền rộng vào phương Đông

Khởi đầu từ sự kiện tu sĩ Lạc Tôn đục hang đá tĩnh tu, người dân Đôn Hoàng bắt đầu xây dựng hang đá Phật giáo trong suốt hàng nghìn năm qua. Phật pháp được bắt nguồn từ Ấn Độ với tên gọi thời đó là Thân Độc hoặc Thiên Trúc. Phật pháp lan truyền rộng rãi vào phương Đông là nhờ vào sự giao lưu của các phương diện quân sự, ngoại giao, thương mại, văn hóa giữa Trung Nguyên và Tây Vực trên con đường tơ lụa. Các tăng sĩ ôm tâm nguyện hoằng dương Phật pháp, đi về phương Đông dọc theo con đường tơ lụa, hy vọng đem những Phật lý mà mình liễu ngộ được hoằng dương đến những vùng đất rộng lớn hơn.

 – Các tăng sĩ ôm tâm nguyện hoằng dương Phật pháp, đi về phương Đông dọc theo con đường tơ lụa. Đây là thánh dung của Đàm Diên pháp sư tại hang 98 vào thời Ngũ Đại của hang Mạc Cao – Đôn Hoàng. (Ảnh: Phạm vi công cộng).

Nếu như nói sự phát triển của lịch sử đều là do ý trời, vậy thì chúng ta thử nhìn lại quá trình khai thông và phát triển của con đường tơ lụa xem sự phồn thịnh của nó có phải thực sự chỉ là vì để thỏa mãn sự theo đuổi tiền bạc, vật chất của người đời? Và thực sự chỉ vì để chiếm hữu những báu vật quý hiếm và khám phá thế giới của những nước khác thôi sao?

Vào thời kỳ văn hóa lễ nghĩa suy thoái, chư hầu hỗn chiến của Đông Chu, trăm nhà tranh giành lẫn nhau, phương pháp tu luyện của Đạo giáo và hệ thống tư tưởng Nho giáo bắt đầu hưng thịnh. Mà trong thời kỳ Ngũ Hồ Thập Lục Quốc cũng là một thời kỳ chiến loạn liên miên diễn ra ở khắp nơi, Phật pháp được truyền bá rộng rãi tại Trung Nguyên, chỉ ra một cảnh giới nương dựa khác cho người đời. Người dân ở Đôn Hoàng cũng vì vậy mà được lắng nghe âm thanh nhiệm mầu của Phật pháp, từ đó mới có những ngôi chùa hang đá của bản địa, cuối cùng phát triển thành bích họa và nghệ thuật tượng màu vô cùng tinh xảo. Đây mới là sự thiêng liêng nhất và cũng là một phần tinh hoa tuyệt đẹp nhất của văn hóa Đôn Hoàng.

Lạc Tôn không phải là vị tu sĩ đầu tiên đi đến Đôn Hoàng. Phật pháp lưu truyền vào phương Đông là một quá trình thần kỳ và vi diệu diễn ra tự nhiên. Vào thời kỳ Lưỡng Hán, Phật pháp bắt đầu truyền vào trung thổ (tức Trung Quốc). Theo như “Thích Lão Chí” của Ngụy Thư, vương triều Trung Hoa xuất hiện ghi chép về “Phật” sớm nhất là vào những năm Nguyên Thú của thời Hán Vũ Đế. Đại tướng Hoắc Khứ Bệnh trong một lần đánh trận tại Hà Tây, đánh thẳng một mạch đến núi Yên Chi, giết gần một vạn kẻ địch, chiêu hàng hơn năm vạn người, và lấy bức tượng vàng (kim nhân) mà Hưu Đồ Vương của Hung Nô dùng để tế trời, xem đó là chiến lợi phẩm rồi mang về Trường An.

Bức tượng vàng này cao hơn một trượng, Hán Vũ Đến nhìn thấy tưởng là thần linh, nên đặt ở Cam Tuyền Cung, mỗi ngày thắp nhang, lễ bái cúng dường. Bức tượng cao lớn đến từ Tây Vực này được cho rằng là một tượng Phật. Mà trong quá trình bác vọng hầu Trương Khiên đi sứ Tây Vực cũng từng nghe nói về những thông tin liên quan đến Phật giáo: Kể rằng bên cạnh nước Đại Hạ có một nước tên là Thân Độc, còn có tên gọi khác là Thiên Trúc (tức Ấn Độ), tại đó rất thịnh hành giáo pháp của Phù Đồ – Phù Đồ nghĩa là “Phật Đà”.

– Hoắc Khứ Bệnh mang về một kim nhân cao hơn một trượng, Hán Vũ Đế nhìn thấy, tưởng là tượng Thần linh, đặt tại Cam Tuyền Cung, mỗi ngày thắp nhang, lễ bái cúng dường. Đây là “Hán Vũ Đế quỳ bái tượng Phật” trong Phật giáo sử tích đồ tại hang 323 của hang Mạc Cao – Đôn Hoàng. (Ảnh: Phạm vi công cộng).

Năm Nguyên Thứ thứ 2 của Hán Viên Đế (2 năm trước đó), sứ giả Y Tồn của Đại Nguyệt Thị vào Trường An, khẩu truyền “Phù Đồ Kinh” (tức truyền dạy Kinh Phật bằng miệng) cho Cảnh Lư, đây là sự kiện Kinh Phật xuất hiện lần đầu tiên tại Trung Nguyên, được ghi chép bằng lại bằng chữ viết. Còn Phật pháp chính thức truyền vào Trung Nguyên được bắt nguồn từ cuộc gặp gỡ ly kỳ trong mộng của một vị hoàng đế nhà Hán.

Trong những năm Vĩnh Bình thời Đông Hán, một ngày nọ Hán Minh Đế mơ thấy có một bức tượng vàng (kim nhân) từ trên trời giáng xuống, bay vào trong cung đình. Chỉ nhìn thấy thần hình cao lớn, trên đầu có ánh sáng vi diệu giống như mặt trời.

Ngày hôm sao, Hán Minh Đế triệu tập quần thần đến để giải thích sự việc này cho ông nghe, có người trả lời rằng: Tây Vực có một vị thần linh, gọi là “Phật”, thân cao một trượng sáu thước, khắp thân thể đều là màu vàng kim, nhẹ bỗng có thể bay được. Vậy thì kim nhân mà Hán Minh Đế mơ thấy chắc chắn là Phật rồi. Hán Minh Đế nghe xong vô cùng hoan hỷ, phái sứ thần đi đến nước Thiên Trúc để tìm học Phật pháp. Sau đó, các sứ giả tìm được cao tăng Ma Đằng, rồi mời ông đến Trung Nguyên tu hành. Sau khi cao tăng Ma Đằng vào Trung Nguyên, Hán Minh Đế không chỉ nhiệt tình tiếp đãi, mà còn xây Tu Củng Tinh Xá ở ngoại thành Lạc Dương cho ông, nơi đó chính là Bạch Mã Tự sau này.

Trong suốt hơn hai ngàn năm sau đó, Phật pháp được lưu truyền khắp mọi nơi tại Trung Nguyên, các ngôi chùa mọc lên như rừng cây, văn hóa tu luyện Phật Pháp cuối cùng cũng đã trở thành hệ thống tín ngưỡng quan trọng như Nho giáo và Đạo giáo trong văn hóa Trung Hoa xưa.

Phật giáo tại Lương Châu

Phật giáo thực sự đi vào Trung Nguyên với quy mô lớn lại đúng vào thời kỳ hỗn loạn của Đông Tấn. Sau Loạn Vĩnh Gia, vương triều Trung Nguyên không còn khả năng kiểm soát thiên hạ, triều đình và các đại gia tộc lớn tiến hành di dời về phương Nam. Quân vương người Hồ trỗi dậy và tranh giành phương Bắc, chính quyền mất đi sự hưng thịnh, chiến loạn triền miên. Bá tánh ly tán đi khắp nơi, các quý tộc giàu có do dự không quyết. Tăng chúng ở phương Tây dựa vào niềm tin chân chính nơi Phật pháp, không sợ nguy hiểm gian nan, vượt qua con đường tơ lụa đi đến Đông Thổ. Trạm đầu tiên của họ chính là Lương Châu bao gồm quận Đôn Hoàng.

– Thời kỳ Ngũ Lương, Phật giáo tại Lương Châu đi sâu vào lòng người, thậm chí gọi là quốc giáo. Hình ảnh này là “vạn Bồ Tát lâu”, tức một ngàn quyển sách của Văn Thù lấy từ nội dung trong “Kinh Hoa Nghiêm”, trong hang 61 thời kỳ Ngũ Đại của hang Mạc Cao – Đôn Hoàng. (Ảnh: Phạm vi công cộng).

Năm Nguyên Phong thứ 5 của Tây Hán (năm 106 TCN), Hán Vũ Đế thiết lập Thập tam Thứ sử bộ trong thiên hạ, mỗi người cai quản một Châu. Thứ sử Lương Châu được thiết lập tại quận Vũ Uy, thống lĩnh các quận ở Hà Tây, phạm vi bao gồm Cam Túc, toàn cảnh Ninh Hạ và một phần khu vực của Thanh Hải, Tân Cương và Nội Mông Cổ của ngày nay. Trong lịch sử Đông Tấn, tại Hà Tây liên tục xuất hiện chính quyền Tiền Lương, Hậu Lương, Nam Lương, Bắc Lương, Tây Lương, tạo thành chính quyền “Ngũ Lương”, lãnh thổ chủ yếu nằm trong khu vực biên cương Lương Châu của thời xưa.

Khi Trung Nguyên chịu đủ mọi khổ sở về chiến tranh loạn lạc, thì Lương Châu là nơi duy nhất giữ được sự yên ổn mà no đủ, trở thành một nơi lánh nạn mới của người dân Hán Tộc ở bên ngoài Nam Độ. Con cháu Hoa Hạ bao đời nay luôn kính Thiên tín Thần, trong thời cuộc loạn lạc chỉ cầu mong thế gian thái bình và tìm được đích đến của cuộc đời. Những bá chủ chiếm cứ Hà Tây trong thế giới kẻ mạnh nuốt chửng kẻ yếu, rất cần tìm kiếm trụ cột tinh thần cho sự thống trị của mình, đồng thời tìm kiếm sự chuộc tội và yên bình của tâm linh. Tất cả những điều này đều tạo thành một nền tảng vững chắc cho Phật giáo phát triển mạnh mẽ tại Lương Châu.

Trong thời kỳ Ngũ Lương, Phật giáo tại Lương Châu đi sâu vào lòng người, thậm chí được gọi là quốc giáo. Trong “Âm Nhạc Chí” của Tùy Thư có ghi chép: “Lương Châu từ sau Trương Quỹ, thế gian tin Phật giáo”. Trương Quỹ tức là vị vua sáng lập nhà Tiền Lương. Các đời quân vương đều thỉnh mời các tu sĩ danh tiếng ở khắp nơi, xây dựng rất nhiều chùa, vì vậy mà rất nhiều tu sĩ nổi tiếng tề tựu tại Lương Châu. Hoặc họ sẽ thi triển thần thông để khuyên dạy người đời, hoặc họ phiên dịch các cuốn Kinh nổi tiếng một cách thành thạo, hoặc đi khắp nơi để truyền dạy giáo lý nhà Phật, ra sức thúc đẩy sự hưng thịnh của Phật giáo tại Trung Nguyên.

Ví dụ như cao tăng Phật Đồ Trừng, dùng thần thông để biến ra hoa sen màu xanh trong nước, dùng điều đó để khuyên quân vương Thạch Lặc của Hậu Triệu bớt giết chóc, ông có gần một ngàn môn đồ, phần đông trong số đó đến từ Lương Châu. Trúc Pháp Hộ (Dharmarakṣa) tinh thông 36 ngôn ngữ khác nhau, dịch 175 bộ, 354 quyển Kinh Phật, là một vị cao tăng vào Trung Hoa dịch Kinh nhiều nhất. Còn có Trí Nghiêm, Bảo Vân, Tuệ Hiền, Tăng Ấn v..v.. của Lương Châu đi đến vùng Giang Nam ở phía nam để truyền bá rộng rãi phương pháp thiền của Phật giáo, mang theo rất nhiều Kinh Phật đã được dịch, có tác dụng thúc tiến rất mạnh mẽ đối với sự phát  triển Phật giáo của Nam Triều.

– Đây là bức tranh về câu chuyện của Phật Đồ Trừng tại hang 323 đầu nhà Đường của Hang Mạc Cao – Đôn Hoàng. Miêu tả các nội dung liên quan đến Phật Đồ Trừng thuyết pháp cho Thạch Hổ và thị giả, nghe tiếng chuông phân biệt hung cát, dùng thần lực dập tắt đám lửa lớn ở thành U Châu. (Ảnh: Phạm vi công cộng).

Trong tất cả các cao tăng, thì sự xuất hiện của Cưu Ma La Thập là một sự kiện lớn trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa. Cưu Ma La Thập là người đầu tiên được công nhận trong lịch sử phiên dịch Kinh Phật Trung Quốc, ông vốn là một quý tộc của nước Quy Từ tôn sùng Phật Pháp, năm 7 tuổi theo mẹ xuất gia tu hành, đọc thông một ngàn tụng một ngàn kệ, 12 tuổi là có thể mở pháp đàn thuyết pháp, tuổi còn rất trẻ đã được làm quốc sư của nước Quy Từ, danh tiếng vang dội khắp Tây Vực.

Khi đó, vua Phù Kiên của Tiền Tần mời Cưu Ma La Thập vào Trung Nguyên nhưng không mời được, vào năm Kiến Nguyên thứ 18 (năm 382), Phù Kiên phái đại tướng Lã Quang đi đến Tây Vực chinh phạt Quy Từ. Hai năm sau, Lã Quang bắt được Cưu Ma La Thập. Rồi lại mất thêm một năm, đội quân của Lã Quang đi vào thành Lương Châu đóng quân, xây dựng nước Hậu Lương, từ đó nhất đại cao tăng Cưu Ma La Thập vang danh khắp nơi bị giam lỏng tại Lương Châu 17 năm.

Tuy nhiên Cưu Ma La Thập không hề chán nản, ông bắt đầu giảng Kinh và truyền pháp cho những người Trung Nguyên ở xung quanh ông, đồng thời học các ngôn ngữ địa phương của Hán tộc, có sự hiểu biết sâu sắc hơn về văn hóa Trung Nguyên. Đến năm Hoằng Thủy thứ 3 của Hậu Tần (năm 401), Diêu Hưng công đánh Hậu Lương, nghênh đón Cưu Ma La Thập đến Trường An, cung phụng ông như thần thánh. Cưu Ma La Thập không chỉ truyền đạo giảng pháp cho quần thần và tăng chúng của Hậu Tần, mà còn phiên dịch hơn ba trăm quyển Kinh Phật. Dưới sự cố gắng của ông, Phật pháp xuất hiện cảnh tượng hưng thịnh toàn diện tại Hậu Tần.

Quá trình nhịn nhục chịu đựng tại Lương Châu suốt 17 năm, đã rèn giũa Cưu Ma La Thập thành một bậc thầy ngôn ngữ, góp phần vào thành tựu trong lĩnh vực dịch Kinh Phật của ông. Vì ông đối với Hán ngữ có sự lý giải độc đáo vượt bậc, nên có thể biến Kinh Phật Ấn Độ thành những trang Kinh Hán ngữ tuyệt đẹp như thơ, trở thành văn bản kinh điển mà các trường phái Phật giáo tại Trung Nguyên luôn tôn sùng. Trong hơn một ngàn sáu trăm năm qua, không ai thêm bớt một chữ nào trong bản dịch của ông. Dưới ngòi bút của Cưu Ma La Thập, ông đã sáng tạo ra danh ngôn “sắc tức thị không, không tức thị sắc” mà ai nấy đều ca ngợi, và những từ kinh điển như: khổ hải, tâm điền, ái hà v..v… đến nay vẫn còn ảnh hưởng đến cuộc sống của người Hoa.

Nguồn gốc của việc tạc tượng

Lương Châu trong thời kỳ Ngũ Lương từng là trung tâm Phật giáo tại phương bắc Trung Hoa trong một thời gian dài. Cống hiến của Phật giáo ở Kinh Châu không chỉ nằm ở việc dịch Kinh, truyền Pháp, mà còn có ảnh hưởng rất lớn đến việc xây dựng chùa và hang đá, là nguồn gốc của kiến tạo hang đá trên mảnh đất Trung Hoa được xây dựng vào thời kỳ Bắc Lương.

– Đây là bích họa Bắc Lương được phát hiện tại hang số 4 của hang đá núi Thiên Thê. (Ảnh: Phạm vi công cộng).

Tuy rằng việc xây dựng hang đá trong thời kỳ Bắc Lương trễ hơn thời gian Lạc Tôn đục hang đá gần 100 năm, nhưng nó lại là chùa hang đá có nghệ thuật tạc tượng Phật sớm nhất có thể kiểm chứng được, cũng là nguồn gốc thực sự của nghệ thuật tạo tác chùa chiền trong hang đá tại Trung Quốc.

Thật ra khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni truyền pháp, không chủ trương thiết lập tượng, vì vậy mà Ấn Độ thời xưa không có tượng Phật trong một thời gian dài. Các tu sĩ và tín chúng phần lớn đều là dùng các hình ảnh tượng trưng như tháp Phật, cây Bồ Đề, thủ ấn, túc ấn để tưởng nhớ về hình tượng đức Phật. Cho đến khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết Bàn sau hơn 600 năm, tại quốc gia Càn-đà-la (Gandhara) nằm ở giữa Pakistan và Afghanistan, mọi người dựa theo miêu tả trong Kinh Phật như đỉnh đầu có nhục kế, giữa hai chân mày có bạch hào (sợi lông trắng như ngọc và mềm mại), màu da vàng kim v..v.. lần đầu tiên tạo ra hình tượng của Phật.

Càn-đà-la nằm ở trên điểm tiếp nối giữa đại lục Châu Á và Châu Âu,  phong cách điêu khắc tượng được kết hợp giữa đặc trưng phương Đông từ điêu khắc hiện thực của Hy Lạp, La Mã cổ đại cùng với nét quyến rũ của phương Đông từ sự tinh tế và linh thiêng của Ấn Độ cổ đại. Sau đó, mọi người kết hợp hang đá dùng để tu hành, lễ bái với hình tượng của Phật, sáng tạo ra hình thức kinh điển của tượng Phật trong hang đá. Với sự truyền bá về phía đông của Phật giáo, hình thức này được tích hợp với nền văn hóa Trung Nguyên thâm sâu tinh tế, cuối cùng hình thành nên nền nghệ thuật Phật giáo huy hoàng chói lọi hơn.

Khi nghệ thuật này bám rễ và phát triển tại Trung Hoa, cũng chính vào năm 412 CN, là thời kỳ “Hà Tây Vương” Tự Cừ Mông Tốn của Bắc Lương thống trị Hà Tây. Mông Tốn sát phạt không ngừng lại cực kỳ sùng bái Phật giáo, ủng hộ Phật giáo một cách mạnh mẽ. Ông xây dựng nhiều công trình với quy mô lớn tại Hà Tây, xây chùa, cúng dường cao tăng dịch Kinh truyền pháp, thúc đẩy Phật giáo trở nên hưng thịnh tại Lương Châu. Cùng lúc đó, ông lại nảy một ý tưởng vĩ đại hơn, bắt chước hình thức hang động của Ấn Độ cổ, đục khoét một hang đá thuộc về Bắc Lương với quy mô lớn trên dãy núi cao ngất.

– Du khách tham quan các tác phẩm điêu khắc Phật giáo tại Yungang Grottoes vào ngày 6 tháng 8 năm 2006 ở Đại Đồng của tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. – Yungang Grottoes là một phần của ngôi đền Phật giáo cổ được xây dựng cách đây hơn 1.500 năm. Nơi này cũng là một kiệt tác cổ điển của nghệ thuật Phật giáo Trung Quốc và đã được đưa vào danh sách Di sản Thế giới của UNESCO vào năm 2001. (Ảnh của China Photos / Getty Images).

Lúc này, có một tu sĩ trẻ tuổi tên là Đàm Diệu đi đến Lương Châu tu học Phật pháp. Địa vị của Đàm Diệu trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc cũng có thể nói là rất siêu phàm, tuy nhiên những tài liệu liên quan đến ngày tháng năm sinh và thói quen ngày thường của Đàm Diệu đều không được ghi chép trong văn hiến. Chỉ biết là Đàm Diệu cùng với một số tu sĩ tại Lương Châu đi tìm kiếm một nơi yên tĩnh vắng vẻ để chuyên tâm tu hành, cuối cùng đã chọn được núi Thiên Đề thuộc dãy núi Kỳ Liên. Ngọn núi này nằm ở bên ngoài thành Uy Vũ 50km, độ cao so với mực nước biển không cao, tuy nhiên địa hình hiểm trở khác thường, lối đi giống như một chiếc thang treo, cho nên gọi là núi Thiên Thê.

Ý tưởng của Đàm Diệu và Mông Tốn vô tình lại giống nhau, sau đó, Đàm Diệu dẫn theo rất nhiều thợ giỏi đi lên núi Thiên Thê một cách gian nan. Họ chẻ núi làm đường, tiến hành công trình đục hang vĩ đại. Trong quá trình đó, mẹ của Mông Tốn đột nhiên qua đời, Mông Tốn thỉnh cầu Đàm Diệu điêu khắc một tượng Phật to lớn ở bên trong hang, để làm kỷ niệm. Đàm Diệu đã thực hiện mong muốn này của quốc vương Mông Tốn, công trình hang đá trên núi Thiên Thê mất hơn 20 năm thời gian, cuối cùng đã hoàn thành, trong đó có một tượng Phật vô cùng nghiêm trang cao 5m ngồi dựa vào núi, bảo vệ dãy núi địa linh nhân kiệt này suốt bao nhiêu năm tháng qua.

Sau Bắc Lương, Bắc triều đến Tùy Đường, ngôi chùa trong hang đá này liên tục được cải tạo, trùng tu, trở thành quần thể kiến trúc hang đá khiến người đời phải thán phục.

Sau khi Bắc Ngụy tiêu diệt Bắc Lương, các tu sĩ và những người thợ điêu khắc ở Lương Châu di chuyển đến nội địa, hang đá Vân Cương, Long Môn nổi lên sau đó thừa kế phong cách nghệ thuật tạc tượng của Lương Châu. Đặc biệt là Vân Cương mất 6 năm cho công trình đầu tiên, chính là Đàm Diêu dẫn theo những người công nhân ở Lương Châu đi xây dựng, tức “Đàm Diệu Ngũ Quật”.

Cùng với sự thay đổi chính quyền, mô hình của hang đá Lương Châu cũng chính thức đi vào Trung Nguyên, ảnh hưởng toàn bộ phong cách nghệ thuật của hang đá Trung Hoa. Vì thời gian đã quá lâu, phần lớn các hang đá được xây dựng trong thời kỳ Bắc Lương đều bị hư hoại bởi chiến tranh, điều may mắn là những hang đá lớn là thành quả vĩ đại còn sót lại, vẫn bảo tồn được nét đẹp ban đầu của hang đá cho người đời sau. Trong quần thể hang đá tại Đôn Hoàng, hang đá Lương Châu cũng là kiệt tác được hình thành sớm nhất, chúng chính là trang đầu tiên sinh động huy hoàng trong lịch sử hang đá Đôn Hoàng.

Theo Epoch Times
Châu Yến biên dịch
.