Cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ năm 2020 tưởng rằng chỉ là vấn đề của người dân Mỹ quốc, nhưng kết quả lại cho thấy nó tác động đến toàn bộ thế giới khiến mọi người đều bị cuốn vào theo… 

Đặc biệt đáng chú ý là: khi sự việc gian lận bầu cử Mỹ được phanh phui, chính quyền do Đảng Cộng sản Trung Quốc cầm đầu lại đóng một ‘vai hề’ rất xấu khiến con người trên thế giới cảm thấy nó hèn hạ và vô sỉ. Điều này đã dẫn đến một vấn đề, con người trên thế giới, dù ở bất kỳ quốc gia nào, và dù cho sự việc này có liên quan gì đến lợi ích của mỗi người hay không, chúng ta cũng cần đưa ra lựa chọn của mình khi đối diện với cuộc chiến giữa đại thiện và đại ác trước mắt được biểu hiện qua cuộc bầu cử Tổng thống tại Mỹ. 

Trong cuộc tổng tuyển cử tại Hoa Kỳ, ai là bậc quân tử đang thực sự hoàn thành lời thề? Ai đang thể hiện ra bộ mặt làm tuồng ‘đẹp đẽ’ nhưng sau lưng lại bắt tay với ma quỷ? Nhiều người trên thế giới đã biết về điều này và cũng đã có những quan điểm của riêng mình. Từ vị trí địa lý, chúng ta có thể thấy rằng Hoa Kỳ và Trung Quốc đối diện nhau, chênh lệch múi giờ khoảng 12 tiếng đồng hồ. Trong u minh, Hoa Kỳ và Trung Quốc cũng có mối quan hệ đối ứng nhất định. Trên thực tế, không chỉ năm 2020, cuộc bầu cử Mỹ có mối liên hệ với Trung Quốc mà vào năm 1620 cách đây 400 năm, Trung Quốc và Mỹ cũng từng có một chút quan hệ liên quan đến chính sự quốc gia rất vi diệu.  

Vậy điều gì đã xảy ra ở hai quốc gia này trong năm 1620?

Năm 1620, những tín đồ thuộc phái Thanh giáo đã đổ bộ lên nước Mỹ. Vào tháng 11/1620, một nhóm di dân là các tín đồ Thanh giáo ngồi trên con tàu Mayflower là những người đầu tiên tiến vào lục địa Châu Mỹ và bắt đầu hành trình thành lập đất nước thuộc về riêng mình trên vùng đất hoang vu này. 

Nhóm di dân đặt chân lên đất liền đúng vào thời điểm mùa đông, dưới cái lạnh thấu xương và lương thực thiếu thốn, họ thấy rằng có thể sống sót được là nhờ Thượng Đế ban ân. Nhiều người đã mang theo lòng cảm ơn mà xây dựng cuộc sống mới trên mảnh đất này. Trải qua bao thăng trầm mưa gió, bữa đói bữa no, cọ xát với người dân tứ phương, xung đột với thổ dân… tại đây, những con người lương thiện cần cù lao động đã từng bước xây dựng quê hương mới của mình. 

Cũng vào năm 1620, triều đại nhà Minh thay đổi 3 hoàng đế trong một tháng 

Cũng cùng năm đó, tại bên kia địa cầu, trên mảnh đất Thần Châu phồn vinh hoa lệ, là thời kỳ cuối của triều đại nhà Minh. Năm này cũng là năm mà nhà Minh suy vong. Năm 1620, Vương triều nhà Minh không có chiến tranh, không có chính biến nhưng lại thay đổi 3 vị đế vương trong vòng một tháng. 

Vậy thì chuyện gì đã xảy ra?

Tháng 8/1620, Minh Thần Tông, hiệu Vạn Lịch lên ngôi từ năm 9 tuổi, tại vị 48 năm băng hà. Khi còn trẻ, Hoàng đế Vạn Lịch được sự giúp đỡ của quan đại thần Trương Cư Chính, 15 năm đầu ông làm việc rất chăm chỉ, yêu thương dân chúng và thu hoạch được một số thành tựu chính trị, được người đời gọi là “Vạn Lịch Trung Hưng”. 

Chân dung Đại Minh Thần Tông Hiển Hoàng đế (ảnh: Wikipedia).

Sau 10 năm lên ngôi, năm 1582, Hoàng đế Vạn Lịch sinh con trai đầu lòng đặt tên là Chu Thường Lạc. Địa vị của mẹ dựa vào con quý, mẫu thân của Thường Lạc cũng vì vậy mà được thăng từ cung nữ lên cung phi. Tuy vậy, Chu Thường Lạc còn nhỏ nên chưa được phong làm Thái tử. Chính quyết định chậm trễ lập Thái tử của Vạn Lịch đã khơi mào cho tai họa tiềm ẩn phát triển – 20 năm Hoàng đế Vạn Lịch và quan đại thần tranh cãi về truyền thống và quy tắc kế thừa vương vị. 

Bởi vì sau đó hoàng đế Vạn Lịch sủng ái Trịnh Hoàng quý phi, hơn nữa Trịnh Hoàng quý phi cũng hy vọng vun vén cho con trai mình là Phúc Vương Chu Thường Tuân làm thái tử. Nhưng lo lắng rằng quan đại thần sẽ phản đối nên Hoàng đế Vạn Lịch cứ lần lữa mãi không quyết định lập ai làm Thái tử. 

Các quan đại thần cũng hoài nghi Trịnh Hoàng quý phi muốn lập con trai là Phúc Vương Chu Thường Tuân làm Thái tử, như vậy sẽ làm tổn hại đến truyền thống và nguyên tắc kế vị của tổ tiên để lại. Vì vậy họ đã nhao nhao thượng tấu mong Hoàng đế lập con trai trưởng là Chu Thường Lạc làm Thái tử. Hoàng đế Vạn Lịch lại nghĩ rằng, chọn ai kế thừa ngôi vị hoàng đế là chuyện riêng của gia đình, triều thần không nên can thiệp. Vì sự việc này, Hoàng đế và các quan đại thần lâm vào cảnh bế tắc.

Vạn Lịch cũng rất cá tính, ông không muốn thảo luận với các triều thần về câu hỏi “ai sẽ là Thái tử?” Thêm vào đó còn có những nguyên nhân khác… Vậy là ông dùng biện pháp kháng cự tiêu cực, 30 năm không lên thiết triều. 

Trong giai đoạn này, hoàng đế Vạn Lịch đã buộc 4 quan nội các và hơn 10 quan chức cấp Bộ từ chức. Sự việc này làm liên lụy đến hơn 300 quan viên, trong đó hơn 100 vị bị bãi quan cách chức, sung quân, mức ảnh hưởng thật quá lớn. 

Mãi đến năm 1601, vì để giải quyết tranh chấp về ngôi vị Thái tử, Hoàng đế Vạn Lịch đã lập con trai trưởng là Chu Thường Lạc làm Thái tử. Cuộc chiến cuối cùng đã kết thúc. Năm 1620, Hoàng đế Vạn Lịch qua đời vì tuổi già. Lúc này, Thái tử Chu Thường Lạc, người luôn phải lo lắng về việc ngôi vị Thái tử của mình bị phế truất, đã 38 tuổi, thiếu chút nữa là bước sang tuổi trung niên, lên ngôi. 

Chu Thường Lạc lên ngôi và tổ chức lễ đăng cơ, đổi niên hiệu là Thái Xương, lấy tên là Minh Quang Tông. Có thể tưởng tượng rằng cậu con trai Chu Thường Lạc 38 tuổi ngày ngày đều nhận được sự ghét bỏ của cha, điều này có nghĩa là ông đã sống trong hoàn cảnh bị đè nén tinh thần suốt 38 năm. 

Cuối cùng, ông cũng chính thức được làm Hoàng đế. Sau vài ngày đăng cơ, ông đã tiến hành cải cách mạnh mẽ, dọn dẹp mớ hỗn độn mà 30 năm cha ông không lên triều để lại. Cục diện được thay đổi hoàn toàn. Các quan đại thần cũng nhìn thấy hy vọng của triều đại nhà Minh. 

Nhưng tiệc vui ngắn chẳng tày gang, do nhiều năm chịu áp lực, hậu cung chưa từng được hưởng thụ, hơn nữa lại không có người quản việc này, ban ngày tân Hoàng đế – Minh Quang Tông phải xử lý công việc của hơn 30 năm, ban đêm đắm chìm trong sắc dục quá độ… Kết quả là, chỉ chưa đầy 10 ngày, Minh Quang Tông đã sức cùng lực kiệt. 

Trong ‘Quốc Các’ ghi lại: “Trịnh quý phi tiến 8 người cung nữ, bệnh vì kiệt sức”. 

‘Tội duy lục’ cũng ghi lại rằng: “Đăng cơ, Trịnh quý phi tiến mỹ nữ, không đến 10 ngày, hoàng đế liền bị bệnh”. 

Hóa ra nguyên nhân bệnh tật của Minh Quang Tông là do phóng túng sắc dục. Cuối cùng thì, không có chiến tranh, không có đảo chính, tám người phụ nữ đã giết chết một hoàng đế trong mười ngày.

Sau khi tiến 8 mỹ nữ, Trịnh quý phi lại tìm đến thân tín của mình là Thái giám Thôi Văn Thăng tìm cách chữa bệnh cho Minh Quang Tông. Hoàng đế vì phóng túng dục vọng quá độ làm cho thân thể suy yếu, tuy nhiên Thôi Văn Thăng lại dâng thuốc đại hoàng với thuộc tính lạnh. Người có kiến thức về Đông y đều biết, đại hoàng là loại thuốc tiêu chảy. Sau khi uống thuốc, Minh Quang Tông liền đi ngoài ba bốn mươi lần cả ngày lẫn đêm khiến cho thân thể càng thêm suy kiệt. 

Điều này không thể không làm cho mọi người suy nghĩ rằng liệu Trịnh quý phi có thực sự muốn con trai của mình làm Hoàng đế? Nếu không, tại sao mỗi bước đi của bà ta đều muốn đẩy Minh Quang Tông vào chỗ chết? 

Minh Quang Tông biết rằng thời gian của mình không còn nhiều nên cũng chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống xấu nhất. Ngày hôm sau, Lý Khả Chước ở Hồng Lư tự thắp nến dâng thuốc trường sinh cho hoàng đế. 

Vốn dĩ, Quang Tông đang chờ chết, vì muốn xem có phép màu hay không nên ông đã uống viên thuốc màu đỏ này. Đây chính là viên hồng hoàn án nổi tiếng trong lịch sử. Minh Quang Tông ăn viên đầu tiên thấy thân thể sảng khoái, tình trạng sức khỏe có vẻ tốt hơn. Ông nghĩ rằng đây là một phép màu. Do đó ông uống thêm viên thuốc thứ 2, kết quả là cứ như vậy mà băng hà. 

Vậy thì viên thuốc màu đỏ này được điều chế từ những thứ gì mà có thể giết người? Nghe nói rằng, hồng hoàn án được làm từ nước kinh nguyệt của phụ nữ, đá mùa thu, sữa người và chu sa, tính nóng, trái ngược với phương thuốc mà đại hoàng mà Thôi Văn Thăng đã kê đơn ngày hôm trước. Thuộc tính cực lạnh của đại hoàng và tính cực nóng của hồng hoàn án đã đối kháng nhau trong cơ thể quá yếu của Minh Quang Tông. 

Liều thuốc này giống như hiện tượng hồi quang phản chiếu, khiến người ta khỏe mạnh tỉnh táo trong giây lát rồi đột ngột qua đời. Minh Quang Tông đã ngậm đắng nuốt cay trong 38 năm, vậy mà từ lúc bắt đầu lên ngôi cho đến khi qua đời chỉ trong vòng thời gian một tháng. 

Sau khi Minh Quang Tông băng hà, Phúc Vương Chu Thường Tuân, người không được đào tạo để kế vị ngôi hoàng đế đã lên nắm quyền, lấy niên hiệu là Thiên Khải, xưng tên đế là Minh Hy Tông. Minh Hy Tông vốn là người không thích đọc ‘Tứ thư Ngũ kinh’, sở thích duy nhất của ông là làm thợ mộc! 

‘Ký viên ký sở ký’ có ghi: “Minh Hy Tông thiên tính vô cùng khéo léo, yêu thích nghề mộc, tay đục tay búa, xây dựng nhà cửa, tay nghề đạt đến bậc thầy”. Người đời sau nói đùa rằng, ngôi vị hoàng đế đã làm trễ nải con đường thành công trong nghề mộc của Minh Hy Tông! 

Ban ngày, Minh Hy Tông làm nghề mộc trong cung, việc triều chính đều do Ngụy Trung Hiền nắm giữ. Do vậy, một cuộc đấu tranh tàn bạo nghiêm trọng đã diễn ra giữa Đảng thái giám do Ngụy Trung Hiền đứng đầu và Đảng Đông Lâm do giới tri thức đứng đầu. 

Khi triều đình Thiên Khải bước sang năm thứ 7, Minh Hy Tông 23 tuổi, trong lúc đang chèo thuyền trên hồ thì bị ngã xuống nước, nhiễm phong hàn, lâm bệnh không dậy nổi rồi qua đời. Vì không có con thừa kế, ngai vàng được truyền cho người anh cùng cha khác mẹ là Chu Do Kiểm, hoàng đế cuối cùng của nhà Minh. Hoàng đế Sùng Trinh – Chu Do Kiểm chấp chính 17 năm, cuối cùng ông cũng treo cổ chết tại Môi Sơn.

Năm 1620, con tàu viễn dương Mayflower đã cập bến lục địa Châu Mỹ và mở đầu cho việc thành lập nước Mỹ. Cũng cùng năm này, cái chết của Hoàng đế Vạn Lịch cũng mở đầu cho sự sụp đổ của nhà Minh.

Trong vòng một tháng sau cái chết của Hoàng đế Vạn Lịch, một vị Hoàng đế khác của nhà Minh cũng băng hà. Vào năm 1620, triều đại nhà Minh thay đổi tới 3 vị Hoàng đế. 

Đây có lẽ là tần suất thay đổi hoàng đế đạt mức kỷ lục trong lịch sử Trung Quốc. Triều đại nhà Minh dần dần diệt vong. Ở phía bên kia châu lục, Hoa Kỳ dần dần được thành lập. Đây đúng là một sự trùng hợp thú vị, nửa bên này địa cầu bước vào giai đoạn thoái trào còn nửa bên kia lại hình thành và phát triển.

Theo Sound Of Hope
San San biên dịch