Trong hồi 27 khi Quan Vũ treo ấn gói vàng, vượt năm ải chém sáu tướng, ở bề mặt, ông rời Tào doanh để trở về với Lưu Bị, tiếp sau vượt 5 ải chém 6 tướng, từ đó thể hiện tấm lòng trung nghĩa của Quan Vũ với Lưu Bị và trình độ võ nghệ tuyệt kỹ vô song của mình. Nhưng ở góc độ sâu hơn câu chuyện này còn có ý nghĩa gì? Có đơn thuần là đề tài trận mạc hay không?…

Tháng Tám năm nay đã xảy ra sự kiện Bộ Giáo dục Trung Quốc sẽ đưa ‘Tư tưởng Chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới’ của lãnh đạo đương nhiệm vào giảng dạy trong chương trình giáo dục từ cấp Tiểu học đến Đại học. 

Về vấn đề này, nhà sử học đồng thời cũng là chuyên gia phân tích các vấn đề thời sự – Giáo sư Chương Thiên Lượng trong Chính luận thiên hạ đăng ngày 6/8 đã chia sẻ một câu chuyện như sau: 

“Trung Quốc có một luật sư nhân quyền rất nổi tiếng là Cao Trí Thịnh. Ông từng kể rằng khi mình ở trong ngục đã nói chuyện với một viên cảnh sát vũ trang. Viên cảnh sát kể với luật sư Cao rằng, hàng ngày mình phải sao chép lượng lớn những lời giảng của lãnh đạo ĐCSTQ, sau đó còn phải viết tâm đắc thể hội (lĩnh hội tâm đắc). 

Viên cảnh sát biết những thứ này đều là rác rưởi nhưng anh ấy phải làm như vậy, mỗi ngày phải sắp xếp thời gian làm việc ấy, viết xong có thể tiêu huỷ những tờ giấy đó. Mục đích để làm gì? Không làm gì cả, chỉ lãng phí thời gian, lãng phí sinh mệnh…

Khi bạn dành thời gian cho những thứ vô nghĩa, những thứ vô cùng rác rưởi này, bạn không có thời gian để suy nghĩ như một người bình thường. 

Tôi nhớ nước Mỹ có một nhà phê bình văn học rất nổi tiếng tên là Harold Bloom. Ông là một nhà phê bình văn học lừng danh, đã trải qua 4 lần ‘bút chiến’ trong đời, chính là biện luận phê bình văn học với người khác. 

Nhà phê bình văn học Harold Bloom. (Nguồn: Wikipedia)

Lần thứ nhất ông phản đối ‘chủ nghĩa phê bình mới’, lần thứ hai phản đối ‘chủ nghĩa giải cấu’ (1), lần thứ ba phản đối chủ nghĩa nữ quyền, lần thứ tư phản đối văn học ‘Harry Potter’, nhưng cả 4 lần ông đều thất bại. Trên thực tế ông trải qua 4 lần ‘bút chiến’ là để chống lại ‘chủ nghĩa Mác trong văn hoá’.

Harold Bloom rất phản đối việc đọc ‘Harry Potter’, hay tiểu thuyết của Stephen King. Điều này làm mọi người cảm thấy kỳ lạ. Nhưng Bloom trả lời rằng: ‘Khi bạn đọc những tác phẩm hạng ba này, bạn sẽ không có thời gian để đọc những tác phẩm hạng nhất. Sách dở sẽ vắt kiệt thời gian của sách hay’. Ông Harold Bloom khuyến khích mọi người đọc tác phẩm kinh điển, nghĩa là bạn đọc kinh điển trước, sau đó còn thời gian thì mới đọc những tác phẩm tạp nham kia. 

ĐCSTQ ép bạn đọc những thứ tư tưởng gì gì đó, thậm chí còn tệ hơn những tác phẩm hạng ba. Nó chiếm dụng lượng lớn thời gian của bạn vốn để dành cho việc học tập, nắm vững tri thức và bồi đắp tư duy độc lập”.

Ở đây chúng ta không bàn luận về tác phẩm như ‘Harry Potter’ hay sách của Stephen King như thế nào. Trong đoạn chia sẻ trên, ta thấy rằng Harold Bloom khẩn thiết cầu xin mọi người hãy đọc danh tác trước rồi mới đọc những tác phẩm khác. Vậy thì danh tác là gì, danh tác có giá trị như thế nào và tại sao chúng ta nên đọc danh tác? 

Ở phương Đông có tới Tứ đại danh tác gồm:

+ Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung.

+ Thuỷ hử (bến nước) của Thi Nại Am.

+ Tây du ký của Ngô Thừa Ân.

+ Hồng lâu mộng của Tào Tuyết Cần.

Những người khác nhau cảm nhận về giá trị của danh tác khác nhau, còn cá nhân người viết có chút thiển ngộ như sau.

Tứ đại danh tác ‘xưa’ nhưng ‘không cũ’

‘Xưa’ bởi vì 3 tác phẩm là Tam quốc diễn nghĩa, Thuỷ hử và Tây Du Ký được sáng tác vào triều Minh; còn Hồng lâu mộng được sáng tác vào triều Thanh. ‘Không cũ’ bởi vì những giá trị mà Tứ đại danh tác truyền lại vẫn luôn đặc biệt hữu ích cho đến ngày hôm nay. Luân lý, đạo đức, cách hành xử giữa người với người, mối quan hệ giữa vua – tôi, đối đãi với bằng hữu, thân thích, hậu bối như thế nào… tất cả đều không hề xưa cũ. 

Có người thắc mắc, vậy thì Tây Du Ký kể về hành trình đi thỉnh kinh của bốn thầy trò Đường Tăng đã xưa cũ lắm rồi, truyện lấy cảm hứng từ câu chuyện Đường Tăng sang Tây Trúc thỉnh kinh vào thời nhà Đường, đến nay ai còn quan tâm chứ. 

Nhưng nếu trầm tĩnh suy nghĩ, chúng ta sẽ phát hiện rằng, thẳm sâu trong sinh mệnh con người vẫn luôn muốn giải đáp những câu hỏi lớn về nhân sinh: Ta là ai? Ta đến từ đâu? Ta sẽ đi về đâu? Mà những điều này chỉ có thể được giải đáp thông qua tu luyện đề cao cảnh giới, do đó nội hàm trong Tây Du Ký không tính là xưa cũ. 

Hình từ thế kỷ XVIII minh họa một cảnh từ Tây Du Ký. (Nguồn: Wikipedia)

Chúng ta đã xem Tây Du Ký không ít lần, nhưng mỗi khi xem lại vẫn thấy hay, thấy mới, thấy nhiều nội hàm khác trong tác phẩm mà ta chưa hiểu hết… Các danh tác khác cũng như thế. Mỗi lần xem hoặc chiêm nghiệm lại vẫn thấy mới mẻ, điều này chứng tỏ danh tác có nội hàm, thậm chí rất thâm sâu.

Vì phạm vi bài viết có hạn nên tác giả không thể giới thiệu tất cả những phân tích về nội hàm của Tứ đại danh tác, chỉ mạn phép đưa ra 2 đoạn phân tích trong Tây Du Ký và Tam quốc diễn nghĩa. 

Tại sao sau khi ‘ăn trộm nhân sâm quả’ là đến ‘tam đả Bạch Cốt Tinh’?

Bài viết của tác giả Đàn Trần đăng trên trang mạng Chánh Kiến đã giải thích như sau:

“Thầy trò Đường Tăng và Bạch Long Mã, năm vị tập hợp đầy đủ rồi thì bắt đầu quan khảo nghiệm đầu tiên: khảo nghiệm về tâm sắc dục, đây chính là nguồn gốc của ‘Tứ thánh thí thiện tâm’ (Bốn vị thánh thử lòng thầy trò Đường Tăng). Quan ải này qua rồi, ngũ tạng của thân thể cũng tự nhiên an định yên ổn; đối với người tu luyện mà nói, tại tầng thứ này đã bắt đầu xuất nguyên anh. 

‘Ngũ Trang’ trong ‘Ngũ Trang quán’ thực chất là chỉ ngũ tạng trong thân thể người. Quả nhân sâm có hình dáng giống như đứa trẻ, chính là nói về nguyên anh. 

Trong Phật gia, nguyên anh được gọi là Phật thể, cũng là thân kim cương bất hoại. Sau khi nguyên anh được sinh ra, tự nhiên cần phải thanh trừ thây ma trên người, đó chính là chương nói về ba lần đánh Bạch Cốt Tinh. 

Đạo gia cho rằng, trong mỗi người đều có ba cái thây ma (tam thi), lần lượt là Thượng thi, Trung thi, và Hạ thi. Trong ‘Thái Thượng Tam Thi Trung Kinh’ viết: ‘Thượng thi tên Bành Cư, thích báu vật, ở trong đầu con người; Trung thi tên Bành Chất, thích ngũ vị, ở nơi bụng con người; Hạ thi tên Bành Kiểu, thích sắc dục, ở trong chân con người’. Vì có ba chủng thây ma này, nên con người ai ai cũng mê đắm tiền tài vật chất, thích hưởng lạc, lại coi sắc dục là bản tính của mình. Kỳ thực, đó đều là ma!”.

Chính là nói chiểu theo phương pháp tu luyện Đạo gia thì sau khi thân thể xuất nguyên anh là phải thanh trừ ba thây ma nói trên trong thân thể. 

Quan Vũ qua 5 ải chém 6 tướng: ‘không trong ngũ hành, ra ngoài tam giới

‘Tam quốc diễn nghĩa’ là tiểu thuyết khai thác về đề tài trận mạc, miêu tả những trận ‘long tranh hổ đấu’, ‘gió mây khó đoán’, khắc hoạ những nhân vật ‘phong vân’… Thông qua đó mà để lại nhiều bài học sâu sắc, đặc biệt là chữ ‘Nghĩa’, ví như Quan Vũ ‘nghĩa tận trời xanh’, Gia Cát Lượng ‘cúc cung tận tuỵ đến chết mới thôi’, nghĩa vườn đào – huynh đệ vào sinh ra tử có nhau, v.v.

Trong hồi 27 khi Quan Vũ treo ấn gói vàng, vượt năm ải chém sáu tướng, ở bề mặt, ông rời Tào doanh để trở về với Lưu Bị, tiếp sau vượt 5 ải chém 6 tướng, từ đó thể hiện tấm lòng trung nghĩa của Quan Vũ với Lưu Bị và trình độ võ nghệ tuyệt kỹ vô song của mình. Nhưng ở góc độ sâu hơn câu chuyện này còn có ý nghĩa gì? Có đơn thuần là đề tài trận mạc hay không?

Tác giả Thanh Ngọc trong bài viết ‘Quan Công treo ấn gói vàng, vượt năm ải chém sáu tướng: Thử giải dưới góc nhìn tu luyện‘ đã giải ra được đáp án như sau: 

Quan Công lần lượt vượt 5 cửa chém 6 tướng. (Ảnh sưu tầm)

“Quan Công lần lượt vượt năm cửa quan. Cửa quan đầu tiên, trực diện đối đầu, dùng đao chém Khổng Tú, ấy là ‘Kim’.

Cửa quan thứ hai, Hàn Phúc và Mạnh Thản dùng kế lấy chông chà rào kín cửa quan. Thản đợi khi Quan Công đến, đánh nhau rồi giả thua chạy, dử cho Quan Công đuổi theo, còn Phúc đứng núp một nơi, lấy tên mà bắn. Chông chà và tên làm từ gỗ, tương ứng với hành ‘Mộc’.

Cửa quan thứ ba tên là Nghi Thuỷ, lại có tình tiết Phổ Tĩnh mời xơi nước, chính là ‘Thuỷ’.

Cửa quan thứ tư, thái thú Vương Thực dùng kế phóng hỏa định hãm hại Quan Công, ấy là ‘Hoả’.

Cửa quan thứ năm cũng là cửa cuối cùng, qua cửa này là sẽ sang đến đất của Viên Thiệu, tương ứng với ‘Thổ’.

Như vậy, năm cửa quan mà Quan Công vượt qua tương ứng với ngũ hành Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Quan Công vượt năm quan ải này, không còn ở trên đất của Tào Tháo là hình tượng hoá của việc người tu luyện đã không còn trong ngũ hành, siêu xuất tam giới.

Tiếp theo nói về chém sáu tướng. Phật gia cũng giảng ‘thất tình lục dục’, chỉ 7 loại tình cảm và 6 loại dục vọng của con người cần phải tu bỏ. Lại cũng giảng ‘lục căn thanh tịnh’, chỉ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý phải vô tư vô tà. 

Trong Tây Du Ký, sau khi Tôn Ngộ Không theo hộ vệ Đường Tăng thì đầu tiên giết sáu tên cướp (lục tặc), tên của chúng là: Nhãn Khán Hỷ (Mắt thấy mừng), Nhĩ Thính Nộ (Tai nghe giận), Tỵ Khứu Ái (Mũi ngửi thích), Thiệt Thường Tư (Lưỡi nếm nghĩ), Thân Bổn Ưu (Thân vốn lo), Ý Kiến Dục (Ý thấy muốn). Ngộ Không đánh chết sáu tên cướp này, thực ra là miêu tả hình tượng hóa về cách làm cho lục căn được thanh tịnh.

Tựu trung lại, câu chuyện Quan Công vượt qua năm cửa quan, chém sáu tướng để trở về bên Lưu Bị có một tầng hàm nghĩa chính là: người tu luyện cần xả bỏ hết thất tình lục dục, đạt đến lục căn thanh tịnh, thì cuối cùng mới có thể không còn trong ngũ hành, ra ngoài tam giới, tìm lại được chân ngã, chân tâm”.

Từ chuyện vượt ải chém tướng mà tác giả Thanh Ngọc đã phát hiện ra đó là khái niệm xả bỏ ‘thất tình lục dục’, đạt đến ‘lục căn thanh tịnh’, từ đó ‘không trong ngũ hành, ra ngoài tam giới’, mà đây đều là những nội hàm trong tu luyện, cho nên ở đây thấy được hai điều: Thứ nhất tác phẩm có nội hàm thâm sâu vì ẩn chứa nội hàm tu luyện đằng sau con chữ; Thứ hai tác giả Thanh Ngọc cũng là người tu luyện hoặc có tín ngưỡng chân chính, bởi vì một người bình thường sẽ không lý giải được những điểm này. 

Cao trào trong nghệ thuật kể chuyện

Về nội dung, danh tác đã vượt xa những tác phẩm bình thường khác vì có nội hàm thâm sâu. Còn phương diện nghệ thuật thì sao? 

Trong loạt ‘Trung Hoa văn minh sử’ tập 5: Sự trùng hợp của lịch sử, Giáo sư Chương có chia sẻ như sau: 

“Ở Mỹ có một nhà viết kịch bản rất nổi tiếng là Robert McKee, ông được công nhận là đại sư của giới biên kịch điện ảnh, ông đã viết một cuốn sách có tên ‘Story’ – cuốn sách hướng dẫn làm thế nào để viết một kịch bản. 

Nhà viết kịch bản Robert McKee. (Nguồn: Wikipedia)

Trong sách có đề cập đến một khái niệm rất quan trọng, chính là khi chúng ta viết một kịch bản, hết thảy phải vì cao trào. Chúng ta xem điện ảnh đều biết, các chủng xung đột tích luỹ, cuối cùng sẽ nổ ra cao trào. Nếu cao trào có thể làm bạn thoả mãn trong lòng, thì đây là một bộ phim thành công.

Vậy thì để nổ ra cao trào, nếu như ai đó vào lúc nào gặp ai, làm gì, đến đâu, v.v.. thì trước đó bạn phải ‘trải đường’ rất nhiều sự tình, bao gồm cả những xung đột của họ. Chiểu theo cách nói của Robert McKee thì biên kịch điện ảnh là quá trình thao tác ngược, chính là xác định cao cào trước, sau đó mới viết những tình tiết”. 

Nghệ thuật kể chuyện trong danh tác cũng như thế, mỗi chương cũng có cao trào, và để chuẩn bị cho cao trào cũng phải ‘trải đường’ một số tình tiết trước đó. 

Sau khi tác giả giới thiệu nhân vật và sự việc thì mở ra mâu thuẫn, rồi mâu thuẫn được đẩy lên cao trào và được giải quyết bằng một hành động thoả mãn được sự mong mỏi của độc giả, từ đó tạo nên sức hấp dẫn trong kể chuyện và giải quyết tình huống trong chương hồi. 

>> Xem thêm: Vì sao Quan Công qua 5 ải chém 6 tướng mà vẫn phải ‘đau tim’ trước trận chiến Cổ Thành?

Nhiều thơ, trong thơ dùng nhiều điển tích điển cố

Một đặc điểm nữa của danh tác là có thơ xen lẫn với văn, đôi khi một bài thơ lại chứa đựng được tinh thần của hồi đó.

Chúng ta biết rằng thơ là kết tinh của văn vì thơ phải tuân theo rất nhiều quy phạm như niêm luật, bằng trắc… Việc thể hiện một ý nào đó bằng một câu thơ bị giới hạn số chữ là điều khó hơn văn. 

Làm thơ đã khó, dùng điển tích điển cố để biểu đạt ý thơ còn khó hơn nữa bởi nó đòi hỏi người người làm phải am hiểu điển đó và thể hiện ý nghĩa chính xác của điển đó trong thơ. 

Nhưng trong danh tác, đặc biệt là Tây Du Ký thì thơ đã hay lại còn dùng điển rất nhiều. 

Đầu hồi 11 có bài thơ rằng:

Ngày tháng trăm năm tựa bóng câu
Đời người, bọt nước khác gì đâu.
Sớm còn thắm đỏ đôi gò má
Chiều đã bạc phơ nửa mái đầu.
Giấc điệp tàn rồi, đời ảo cả
Cuốc kêu da diết hãy quay đầu.
Xưa nay làm phúc đều tăng thọ
Ở thiện Trời thương, lọ phải cầu.

Câu thơ thứ nhất “Ngày tháng trăm năm tựa bóng câu” là trích từ Trang Tử – Tri bắc du: “Nhân sinh thiên địa chi gian, nhược bạch câu chi quá khích” có nghĩa là: “Người ta ở trong trời đất như ngựa giỏi chạy qua khe hở”, chớp mắt là qua xong. Vì đời người nhanh như thế, do vậy cũng không khác chi bong bóng nước, vừa sủi đã vỡ tan. 

Còn câu thơ thứ ba và bốn có liên qua đến ‘câu đố nhân sư’ (2): Con vật gì sáng đi bốn chân, trưa đi hai chân, chiều đi ba chân. Câu trả lời là con người. Vì đời người trong câu đố nhân sư có thể tóm gọn trong một ngày là sáng, trưa và chiều, nên cũng được xem là rất ngắn ngủi. 

Hồ điệp là con bươm bướm, Trang Chu nằm mơ hoá bướm nên gọi đó là “giấc điệp”. “Cuốc kêu” là lấy từ tích Thục đế Đỗ Vũ ngày xưa mất nước, khi chết hoá thành con cuốc, đêm ngày sầu oán, kêu mãi không thôi. Câu thơ thứ năm và sáu lấy từ 2 điển tích này. 

Câu thơ thứ bảy kể về câu chuyện vua Đường Thái Tông từng xuống âm phủ để chất vấn về cái chết của Long Vương sông Kinh Hà. Tại điện Sâm La, sau khi nghe Thái Tông phân trần, lại thấy số mệnh của Long Vương đã định, nên mười vị Diêm Vương đã sai Thôi phán quan và Chu thái úy đưa Thái Tông trở về dương thế.

Đáng lẽ dương số của Thái Tông đã tận, nhưng nhờ Thôi phán quan giúp sửa sổ sinh tử nên thêm được hai mươi năm tuổi thọ. Do đó trở về âm phủ ngài phải năng làm việc thiện: Ban lệnh đại xá thiên hạ, tha tử tù, thả cung nữ về quê lấy chồng, lại treo bảng cầu hiền… để sống sao cho xứng đáng với số dương thọ tăng thêm. “Xưa nay làm phúc đều tăng thọ” chính là nói về câu chuyện Thái Tông xuống âm phủ rồi trở về nhân gian năng làm việc thiện.

Còn câu thơ thứ tám kể về việc trong quá trình trở về nhân gian, Đường Thái Tông đã vay vàng của một cặp vợ chồng nghèo tên là Tướng Lương. Điều kỳ lạ là cặp vợ chồng ở dương gian nhưng gửi một số vàng bạc ở âm phủ. Tại sao như vậy?

Hồi 11 viết: “Tướng Lương làm nghề bán hàng nước, cùng vợ là Trương thị bán chậu sành ngoài cửa. Mỗi khi bán được đồng tiền nào, họ chỉ ăn uống qua loa, còn bao nhiêu đem bố thí cho các nhà sư, hoặc mua vàng mã cúng đốt gửi kho âm phủ, vì vậy được dồi dào phúc quả. Ở trần gian họ là một người nghèo tốt bụng, nhưng dưới âm phủ lại là người trưởng giả lắm ngọc nhiều vàng”.

“Ở thiện trời thương, lọ phải cầu” chính là nói về vợ chồng nghèo lương thiện này làm việc thiện ở dương gian rồi tích được vàng bạc ở âm gian. 

Vừa hay, cả bài thơ 8 câu đã tóm gọn lại nội dung của hồi 11: Thái Tông có chuyến đi âm phủ, phát hiện đời người vốn dĩ ngắn ngủi như chớp mắt, chỉ có làm phúc mới tăng thọ, ở  thiện thì Trời mới thương. 

Chỉ với một bài thơ ngắn mà ẩn chứa biết bao nhiêu điều trong đó… Trong danh tác có rất nhiều những bài thơ như thế này, do đó về phương diện nghệ thuật, danh tác cũng đã vượt xa những tác phẩm bình thường vì sử dụng thành thạo thơ và điển. 

***

Thời gian của mỗi người là có hạn, mà sách vở bây giờ lại quá nhiều, cho nên việc đọc sách gì cũng phải cân nhắc thật kỹ. May thay, trải qua biết bao thời gian, danh tác đã chứng tỏ được rằng nó ‘tuy xưa nhưng không cũ’, thêm vào đó giá trị nội dung và nghệ thuật vượt xa những tác phẩm bình thường khác, do đó dọc danh tác không chỉ nâng cao đạo đức, nuôi dưỡng tâm hồn, mà còn giúp con người phân biệt thiện – ác, đúng – sai, tốt – xấu, từ đó có những sự lựa chọn đúng đắn trong tương lai. 

Mạn Vũ

Chú thích: 

(1) Năm 1930, Gramsci đề xuất ‘cuộc trường chinh trong thể chế’, sau đó Trường học Frankfurt sử dụng nghệ thuật suy đồi đề ‘làm tan rã’ giá trị truyền thống như là: ma tuý, đồng tính, nhạc rock, làm cho giới trẻ vô trách nhiệm với xã hội… 

Giới trẻ dần xa rời nền tảng văn hoá phương tây là Cơ Đốc giáo và các giá trị truyền thống về gia đình và trách nhiệm cá nhân. Đây là chủ nghĩa Mác văn hoá. Chủ nghĩa ‘Mác văn hoá’ còn gọi là chủ nghĩa giải cấu – deconstruction.

(2) Câu hỏi nhân sư:

Theo quan điểm của người Ai Cập, nhân sư là con thú đầu người mình sư tử, thì trong thần thoại Hy Lạp, đây là loại linh vật giống ở trên nhưng có thêm đôi cánh của loài chim. 

Nhân sư nổi tiếng nhất ở Hy Lạp là con từng gác cửa vào thành phố Thebes. Nó thường đưa ra những câu hỏi bí hiểm cho những ai muốn vào thành. Một trong những câu đố nổi tiếng nhất của nhân sư chính là: “Sinh vật nào đi bằng 4 chân vào buổi sáng, 2 chân vào buổi trưa và 3 chân vào buổi chiều”.

Từ Khóa: