Tài hoa dạt dào, Bảo Thoa vẫn không làm nữ văn nhân. Bảo Thoa ngày thường rất thích làm các việc nữ công, “ngày không được an nhàn, đêm thì làm nữ công đến canh ba mới đi ngủ“. Vì sao lại như vậy?

Chúng ta có được tài hoa dạt dào, nhưng sao lại không có được cuộc đời tràn đầy ý họa tình thơ? 

Chúng ta ngày càng có nhiều quyền lợi và tự do, vì sao lại mất đi cảm giác an toàn và điềm tĩnh cần có của người phụ nữ?

Xoay quanh một vòng lớn, rồi quay đầu nhìn lại Bảo Thoa của mấy trăm năm trước, nàng bằng lòng với những điều vặt vãnh trong cuộc sống thường ngày, có tài nhưng không phải làm nữ văn nhân, nàng có lý do của riêng mình.

Ngày thường không mấy khi làm thơ, cũng không dạy Hương Lăng làm thơ

Bảo Thoa biết làm thơ, và cũng giỏi bàn luận về thơ, thơ của nàng trong các chị em ở Hồng Lâu Mộng thường đứng hạng nhất, nhưng ngày thường nàng lại rất hiếm khi làm thơ.

Ngay khi bước vào vườn Đại Quan, Hương Lăng đã nói với Bảo Thoa rằng: “Cô ơi! Nhân dịp này, cô dạy tôi làm thơ nhé!”. Bảo Thoa nói: “Chị thật là ‘được đất Lũng lại mong đất Thục’. Tôi khuyên chị hãy thong thả. Hôm nay mới đến, trước hết chị ra phía cửa Đông, đến chào cụ, rồi chào tất cả mọi người, nhưng không nên nói cho họ biết vì cớ làm sao mà chị lại dọn sang ở bên vườn này. Có ai hỏi, chỉ nói là tôi bảo chị sang ở với tôi cho vui. Xong rồi chị vào vườn thăm các cô” (Hồi 48 – Hồng Lâu Mộng).

Trong mắt Bảo Thoa, nàng đã lấy thân phận người nhà sinh sống trong vườn Đại Quan, đột nhiên đưa Hương Lăng vào sống ở đây, đương nhiên cũng nên chủ động sang chào chủ nhà một câu, cho người ta biết rằng “Tôi đã đến rồi”. Coi trọng phép lịch sự, đây là điều cơ bản nhất trong tu dưỡng và đối nhân xử thế, nó còn quan trọng hơn nhiều so với việc làm thơ.

Thi từ chẳng qua là để chơi đùa trong khuê các, biết cũng được mà không biết cũng được

Trong hồi 49 có đoạn: “Hương Lăng đang hăm hở thích làm thơ nhưng không dám quấy rầy Bảo Thoa. May sao có Sử Tương Vân đến, Tương Vân rất thích nói chuyện, tránh sao Hương Lăng chả lại nhờ chỉ bảo cách làm thơ. Tương Vân thấy vậy càng cao hứng, suốt ngày đêm hai nàng trò chuyện huyên thiên. Bảo Thoa cười nói: “Điếc tai quá, không thể chịu được nữa. Chúng mình là phận gái mà lại thích thơ, coi việc làm thơ là chính, như vậy chỉ tổ làm cho bọn có học cười thôi, họ lại cho là mình không biết yên phận”.

Phận gái mà lại thích thơ, coi việc làm thơ là chính, như vậy sẽ khiến bọn có học cười cho ư? Đây là điều mà người thời nay rất khó lý giải cho được.

Phụ nữ thời nay đều coi việc tinh thông tài nghệ là điều đáng để tự hào lắm, nhưng Bảo Thoa lại cho rằng, “Thi từ, chẳng qua là để chơi đùa trong khuê các, biết cũng được mà không biết cũng được. Chúng tôi là con gái trong những nhà thế này, không cần đến tiếng khen ngợi tài hoa ấy” (Hồi 64 – Hồng Lâu Mộng).

Vì sao vậy? Bảo Thoa trích dẫn một câu “Con gái không có tài ấy là đức”, câu nói này bắt nguồn từ nhà văn Trần Mi Công đời nhà Minh: 

Phụ nữ biết chữ và lại thích văn chương, nếu là người có thể minh bạch đại nghĩa, tất nhiên ấy là hiền đức, nhưng lại không được mấy người; phần nhiều đều thích xem các loại tiểu thuyết ngôn tình, dấy động tà tâm, thậm chí múa bút chơi văn, làm ra các loại việc xấu xa, nếu thế chi bằng không viết chữ, an phận giả ngây còn tốt hơn”.

Chương thứ 64 của “Hồng lâu Mộng” do Tôn Văn của nhà Thanh vẽ, có năm đoạn ngâm thơ tuyệt đẹp của một cô gái sống ẩn dật. (Phạm vi công cộng)

Phụ nữ đắm chìm trong tiểu thuyết ngôn tình không thể vực lên được, chạy theo hoa lệ của văn chương, yêu thích diễm lệ của thơ từ, tất nhiên sẽ làm tăng thêm tình chấp. Đôi lúc sẽ vì “ái tình thơ mộng”, “chuyện tình đẹp đẽ”, “tình yêu lãng mạn” mà không biết xấu hổ, bất chấp tất cả để “truy cầu giải phóng cá tính, đập tan xiềng xích của lễ giáo”, tự nhiên sẽ không biết an phận thủ thường. Bởi vậy vào thời Đường Tống, phụ nữ tài hoa thường trở thành danh kỹ phong lưu. Bởi tư tình nam nữ mà buông thả kiếp người, làm bại hoại thuần phong mỹ tục, nói theo truyền thống thì chính là không có đức hạnh.

Là phụ nữ không nên đắm mình tiểu thuyết ngôn tình, mà nên quay về con đường giáo dục nữ đức chính thống. Khi biết Đại Ngọc đọc tiểu thuyết ngôn tình, Bảo Thoa khéo léo nhắc nhở Đại Ngọc: “Ngày trước chị cũng bướng bỉnh lắm. Từ khi bảy, tám tuổi, chị đã làm rầy rà người ta. Nhà chị vốn là nhà nho, ông cha cũng rất thích chứa sách. Khi trước nhà đông người, anh chị em nhà chị cùng ở một nơi, không ai thích xem sách đứng đắn cả. Có người thích thơ, có người thích từ, như “Tây sương”, “Tỳ bà”, “Nguyên nhân bách chủng”, bộ gì cũng có. Họ cứ xem giấu bọn chị, và bọn chị cũng xem giấu họ. Sau bố chị biết được, đứa thì bị đánh, đứa thì bị mắng, mấy sách đó lại bị đốt bị xé mất hết. Vì thế bọn con gái chúng ta không biết chữ càng tốt. 

Đám con trai học không hiểu nghĩa lý thì thà không học còn hơn; huống chi là chị em chúng mình. Ngay đến việc làm thơ, viết chữ, đã không phải là phận sự chị em mình, mà cũng không phải là phận sự của bọn con trai nữa. Người con trai đọc sách phải hiểu nghĩa lý để ra giúp nước trị dân mới đúng. Bây giờ không thấy những người như thế nữa, càng đọc sách bao nhiêu họ càng hư hỏng bấy nhiêu. Đó không phải là sách làm hư hỏng họ, tiếc rằng chính họ đã bôi nhọ sách. Bởi thế không bằng đi cày, đi buôn còn hơn. Còn bọn chúng ta, chỉ nên biết việc thêu thùa may vá mới phải, thế mà còn học đòi mấy chữ. Đã trót biết chữ thì nên chọn sách đứng đắn mà xem, chứ xem loại sách nhảm, sẽ đổi hẳn tâm tính đi, không thể sửa lại được” (Hồi 42 – Hồng Lâu Mộng).

Truyền thống thi giáo của Nho gia đề cao việc giáo dục đạo đức qua văn học và nghệ thuật, cần lấy lễ nghĩa ước thúc bản thân, mục đích căn bản là bồi dưỡng đạo đức, tu dưỡng đức tính dịu dàng đôn hậu, còn văn chương chẳng qua là công cụ trình bày học vấn mà thôi.

Thời xưa cũng hiếm có ai lấy việc làm thơ làm bổn phận, các nhà văn được lưu truyền từ bao đời nay đều là những vị tướng quân, quan lại, người thầy dạy học hay người tu hành có cảnh giới, lấy văn chương truyền tải đạo lý, cái mà họ biểu đạt đều là tình cảm đất nước dân sinh, than oán thế đạo bất công, đau xót khổ nạn người dân phải chịu, hoàn toàn vượt trên tình cảm xúc cá nhân, không lấy việc phóng túng tình cảm cá nhân làm trọng yếu. Thế nên, Bảo Thoa cho rằng, người con trai đọc sách mà không có chí bước ra giúp nước trị dân, không bằng đi cày, đi buôn còn hơn; người con gái cứ thích lấy thi từ gửi gắm tình cảm thú vui, mất đi tính nết và không theo lễ tiết, thì còn không bằng mấy cô thôn nữ biết theo khuôn phép.

Nghĩ lại cũng có đạo lý thật, trong thời đại mà lễ nhạc băng hoại, nếu phụ nữ có thể lấy lễ nghi mà tu sửa chỉnh đốn bản thân, thì xã hội và gia đình chúng ta sẽ không có quá nhiều xáo trộn và mâu thuẫn như vậy nữa.

Người phụ nữ có tài mà không cậy tài, ấy mới là đại đức

Cô gái tài hoa nhất trong “Hồng Lâu Mộng” tất nhiên là Bảo Thoa. Kinh thư sử sách, thi từ ca phú, nàng đều quán thông; quản lý tài chính, kinh doanh buôn bán, trung y Hoàng Lão, tham thiền ngộ chân cơ, nàng đều gom đủ. Nàng thậm chí còn am tường hội họa, chỉ là trước giờ không tùy tiện triển lộ tài năng của mình.

“Phụ nữ không có tài mới là đức hạnh” của Bảo Thoa, không phải là nói phụ nữ không có tài hoa thì là có đức hạnh, mà là phụ nữ có tài nhưng lại không cậy chi tài, không phô trương tài hoa, ấy mới là đại đức.

Khi các nàng khuê các hăng hái đắm mình vào trong thi từ xướng họa, Bảo Thoa chỉ đáp lại một cách nhẹ nhàng. Các bài thơ của nàng hầu như đều là câu từ đáp lễ theo tình huống, lời lẽ đứng đắn, trang nghiêm, không có tình cảm nhi nữ thường tình. Ngay cả bài thơ ứng tác (sáng tác thơ văn theo lệnh của nhà vua) vâng mệnh hoàng phi viết ra, nàng cũng không hư trương tình cảm, tô vẽ cảnh thái bình, lời thơ trang trọng, hình thái không chút nịnh nọt thấp hèn.

Trong chương thứ 45 của “Hồng Lâu Mộng” do Tôn Văn nhà Thanh vẽ. (Phạm vi công cộng)

Nàng viết “Cửa khép vì hoa khép suốt ngày”. Hoa hải đường nở vào ban ngày, nhưng cũng khép chặt cửa khuê phòng, nâng niu bản thân mình; nàng viết “Lạt thếch hoa càng thêm được vẻ”, chẳng tô son trát phấn, gìn giữ vẻ thanh cao, xem trọng đức hạnh trong trắng, nhã nhặn điềm tĩnh.

Nhà phê bình Chi Nghiên Trai nhận xét về bài thơ của Bảo Thoa: “Chỉ lấy phẩm hạnh làm gốc, tài hoa kỹ năng làm ngọn. Những câu nói cợt nhả bông đùa, lời lẽ ướt át lả lơi, gột rửa một cái là sạch hết. Điều đó không phải là không thể, chỉ là điều đáng làm mà không chịu làm đó thôi”.

Về tài văn thơ, đối với Bảo Thoa mà nói, “rốt cuộc thì việc này đối với chúng ta cũng không đáng kể”, nàng nói với Tương Vân rằng, “Phận sự của chúng ta là may dệt thêu thùa. Khi nào nhàn rỗi, thì đem sách bổ ích cho mình ra đọc ít chương, như thế mới là việc chính đáng” (Hồi 37 – Hồng Lâu Mộng).

Tài hoa dạt dào như vậy, Bảo Thoa vẫn không làm nữ văn nhân. Bảo Thoa ngày thường rất thích làm các việc nữ công, nàng có thể thêu được hai cánh hoa chỉ trong thời gian rất ngắn, “ngày không được an nhàn, đêm thì làm nữ công đến canh ba mới đi ngủ“.

Thực ra, nàng không hề bị cuộc sống ép buộc, mà chỉ coi việc cung phụng bề trên, san sẻ nỗi lo với mẹ là bổn phận đúng đắn nhất, nàng cũng coi việc khuyên can anh trai, chị em, bạn bè là trách nhiệm của mình. Bảo Thoa có “đức hạnh ngừng khung cửi dệt”, lấy một chữ “đức” để ngợi khen nàng, cũng là khen phẩm đức của nàng còn cao hơn cả “tài hoa”.

Tài năng có được nhờ đọc sách không nên là vật trang trí cho người phụ nữ

Trong nền giáo dục chính thống Bảo Thoa tiếp nhận, bất kể Nho giáo, Thích giáo và Đạo giáo, các nguyên tắc trong đều hết sức rõ ràng: Nhân duyên định sẵn, sống chết có số. Còn phụ nữ là âm, nếu có nữ đức kiềm chế, khiêm nhường, lấy việc giúp chồng dạy con, yên ổn gia đình làm bổn phận, thì âm dương sẽ tự cân bằng, hòa hợp theo lẽ tự nhiên.

Nói cho cùng thì, tài nghệ có được nhờ đọc sách không nên là vật trang trí của người phụ nữ, hay vốn liếng để khoe khoang, mà điều cơ bản của việc đọc sách là cung cấp cho chúng ta nhiều kiến ​​thức hơn trong việc đối nhân xử thế.

Trải qua nhiều biến động như mất cha, gia tộc lụn bại, Bảo Thoa vẫn xử thế theo lễ của Nho gia, nàng không có “nỗi oán chốn phòng khuê”, mà biết chấp nhận số phận, thích ứng trong mọi hoàn cảnh.

Nếu những buồn vui ly hợp của thế gian đã được viết sẵn trong các tập sách nhỏ, nếu cứ mãi đắm mình trong những câu hò “ngày xuân buồn tủi, tháng thu não nề”, há chẳng phải phí hoài kiếp nhân sinh ngắn ngủi hay sao?

Tranh vẽ “Hồng Lâu Mộng” Chương 48-49 của Tôn Văn thời nhà Thanh. (Phạm vi công cộng)

Hương Lăng chịu khó xin Đại Ngọc chỉ dẫn mình cách làm thơ, cuối cùng đã thành công viết ra được bài thơ có tên “Ngâm trăng”. Nỗi buồn trong bài thơ thấm đẫm nỗi thê lương khổ cực của Hương Lăng ngay từ thuở ấu thơ, người con gái đáng thương đêm khuya tựa lan can, ngắm trăng gửi niềm mong mỏi: Vì sao không để người thân ly tán được đoàn viên? Vì sao chúng ta không thể bên nhau mãi mãi không xa rời? Trăng có khi tròn khi khuyết, nhưng lại hồn nhiên trông đợi đêm đêm trăng tròn, tuy đẹp thật đấy, nhưng cũng thật là chấp niệm không buông.

Khi chấp niệm về cái tốt đẹp gặp phải nỗi bất hạnh to lớn hơn, ngắm trăng tỏ bày nỗi lòng chắc không tránh khỏi nỗi bi ai sầu khổ, lâu rồi sao không héo mòn tâm can cho được? Theo Trung y mà giảng, khi bảy loại tình cảm quá khích, thân tâm đều sẽ bị tổn thương, Hương Lăng sau này bị chứng can huyết hư, cũng là do bảy loại cảm xúc ứ đọng mà thành.

Theo quan điểm của Bảo Thoa, viết những bài thơ mua não chuốc sầu là không “nghiêm túc”, “Sầu đa yên đắc ngọc vô ngân?” (Đa sầu nào được ngọc không vết tỳ). Cái “vô tình” của Bảo Thoa, Hương Lăng rất khó mà lĩnh hội được, e rằng cũng không muốn tiếp thụ, tuy nhiên, đây lại là chân lý được truyền lại từ xưa đến nay: nhân duyên đã quyết định số phận buồn vui, được mất cả đời của người ta vậy.

Cuộc sống thăng trầm vốn chẳng do mình quyết định. Là một cá nhân, điều mà bản thân mình có thể làm được chính là bỏ công phu vào việc tu dưỡng bản thân, bình thản nhìn nhận hết thảy, trước những sóng gió vô thường của sự đời, không nên hãm mình vào trong, mà hãy an trụ thân tâm.

Tuy nhiên, cái sâu sắc của “Hồng Lâu Mộng” ở chỗ, nó không chỉ nói lên rằng “kiếp người tan hợp có nhân quả”, mà cũng nói “phúc lành họa dữ cũng tại người”. Trong ái hận tham sân, con người có thể có được sự lựa chọn về luân lý đạo đức giữa đúng sai thiện ác.

Anh trai bắt nạt Hương Lăng, Bảo Thoa cũng không thể làm gì hơn. Nàng biết Hương Lăng luôn khao khát cuộc sống ở vườn Đại Quan, bèn nhân lúc anh trai ra ngoài, mượn cớ muốn Hương Lăng theo hầu mình, để Hương Lăng thỏa mãn được tâm nguyện, khiến cô gái bất hạnh này được đắm mình trong niềm vui văn thơ ở vườn Đại Quan, có được khoảng thời gian hạnh phúc nhất trong cuộc đời.

Tác giả: Tần Thuận Thiên, Epoch Times
Vũ Dương biên dịch

Từ Khóa: