Tư duy phương tây đề cao sự chính xác, còn tư duy phương đông coi trọng sự ‘ám thị’ (gợi ý), lưu lại một khoảng trống để suy nghĩ tưởng tượng. 

Người phương tây có tính cách ‘hướng ngoại’, có gì nói nấy, nhưng người phương đông thì có tính cách hướng nội, nóng giận mừng vui thường ít biểu hiện ra. 

Nhưng có khi nào chúng ta thắc mắc: hai thể hệ văn hoá này liệu có điểm gì tương thông hay không?

Tôi nhớ cách đây khoảng 2 năm, tức năm 2020, tôi có đọc một cuốn sách tên là ‘Chinh phục toàn diện ngữ pháp tiếng Anh’, trong đó có kể rằng, từ “typhoon” có nghĩa là bão to, lại có nguồn gốc từ một từ gốc Hán đó là ‘Đại phong’ (大風, pinyin đọc là dàfēng). Từ “typhoon” là cách đọc ‘trại âm’ của từ Đại phong – 大風.

Câu chuyện này đưa đến cho tôi một cách nghĩ rằng: liệu hai thể hệ văn hoá này có khi nào tương thông với nhau (về mặt lý niệm hay không)? Câu trả lời là có.

‘Chế độ Liên bang Mỹ’ và xã hội lý tưởng ‘tiểu quốc quả nhân’ của Đạo gia

Trong chương trình ‘Chính luận thiên hạ‘ đăng ngày 6/12/2021, chuyên gia nghiên cứu về lịch sử văn hoá – Giáo sư Chương Thiên Lượng đã chia sẻ rằng, Trung Quốc trước thời Tần Thuỷ Hoàng là xã hội cộng đồng nhỏ. Xã hội cộng đồng nhỏ trong tiếng Anh là small community, mọi người đều quen biết nhau, do đó khi đưa ra quyết định thì mọi người có thể thương lượng với nhau giống như Đại hội công dân ở Athens.

Giáo sư Chương nhìn nhận, việc trị lý của nước lớn nên học Chế độ Liên bang của Mỹ, chính là chính phủ hạn chế hết mức việc quản lý những việc nhỏ; chính phủ càng ở trên, thì quyền lực nên càng nhỏ. Chính phủ ngoài việc quản lý về ngoại giao, quốc phòng, chính sách tiền tệ… các việc khác không cần quản. Bởi vì những việc nhỏ hãy để cho cộng đồng quản, như thế mới phát huy được ‘cộng đồng tự trị’.

Mà ‘cộng đồng tự trị’ chính là chuyển về trạng thái ‘tiểu quốc quả nhân’ (小國寡民: nước nhỏ dân ít) như Lão Tử nói trong cuốn ‘Đạo đức kinh’ rằng: “Các nước láng giềng gần gũi có thể trông thấy nhau, nước này nghe được tiếng gà tiếng chó ở nước kia, mà nhân dân các nước ấy đến già chết cũng không qua lại với nhau”. Nói cách khác, tôi đứng ở đây có thể thấy được nước láng giềng, chính là nhỏ đến độ nghe được tiếng gà tiếng chó của nhau, chỉ sinh hoạt trong một phạm vi rất nhỏ.

Với diện tích quốc thổ nhỏ như vậy, thì mọi người biết rõ nhau, nên rất khó dùng ‘bạo chính’ để bức hại một người hoặc một số người nào đó trong quốc gia. 

Chúng ta biết rằng, hình thái chính trị quốc gia từ thời Tần Thuỷ Hoàng trở về sau là trung ương tập quyền. Nếu quay lại chế độ ‘phân phong’ (分封: phân đất phong hầu, phong kiến) thì y rằng quốc gia xảy ra chiến loạn. Do đó trung ương tập quyền có ảnh hưởng sâu sắc và là một ưu thế trong việc thiết kế chế độ chính trị.

Nhưng Giáo sư Chương chia sẻ thêm rằng, chế độ này vẫn còn nhiều vấn đề chưa thể khắc phục. Còn Chế độ Liên bang của Mỹ thừa hưởng ưu thế của trung ương tập quyền (ổn định, không dễ xảy ra chiến loạn hay tạo phản), nhưng lại giảm bớt quyền lực của trung ương để giao quyền lực nhiều hơn cho địa phương nhằm phát huy tinh thần tự trị.

Điều này làm cho Chế độ Liên bang của Mỹ vừa có đặc điểm ‘thiên hạ cộng chủ’ (thiên hạ cùng chủ) của trung ương tập quyền từ thời Tần Thuỷ Hoàng, vừa có đặc điểm xã hội lý tưởng của Đạo gia là ‘tiểu quốc quả nhân’ (nước nhỏ dân ít). Đây là điểm giống nhau thứ nhất.

Thiết kế ‘Tam quyền phân lập’ dựa trên nguyên lý ‘tương khắc’ của Đạo gia

Điểm giống thứ hai là thiết kế ‘Tam quyền phân lập’ của nước Mỹ dựa trên nguyên lý ‘tương khắc’ của Đạo gia.

Nhìn vào Thái Cực Đồ của Đạo gia, chúng ta có thể thấy rằng, khi Dương đạt đến cực đỉnh sẽ sinh ra Âm, ngược lại khi Âm đạt đến cực đỉnh sẽ sinh ra Dương. Đây là ‘tương sinh’. Còn Âm – Dương chế ước lẫn nhau để đạt được mức cân bằng thì đây gọi là ‘tương khắc’.

Nếu lấy đạo lý tương khắc trong Đạo gia mà nhìn, thì mọi người sẽ thấy thiết kế chính trị của nước Mỹ là ‘Tam quyền phân lập’. ‘Tam quyền’ ở đây gồm:

  • Quyền Lập pháp thuộc về Quốc hội.
  • Quyền Hành pháp thuộc về Tổng thống.
  • Quyền Tư pháp thuộc về Toà án.
Ảnh chụp màn hình kết cấu Tam quyền phân lập trên VnExpress, dẫn nguồn từ BBC.

Giữa Quốc hội, Tổng thống và Toà án ước chế lẫn nhau để không đi đến cực quyền. Ví như tổng thống Mỹ muốn ban hành Lệnh hành pháp, thì Lệnh hành pháp phải được Tối cao Pháp viện thông qua với tỷ lệ quá bán. Tối cao Pháp viện có 9 Thẩm phán, vậy thì phải đạt được 5/9 phiếu thuận thì Lệnh hành pháp mới được thi hành.

Do đó ‘Tam quyền’ ước chế lẫn nhau để tránh đi đến cực quyền, đây là điểm rất giống với lý ‘tương khắc’ trong Đạo gia.

Ngược lại với chế độ ước chế lẫn nhau như ‘Tam quyền phân lập’ là chế độ cực quyền giống như ĐCSTQ. Có chuyên gia từng nhìn nhận rằng, chế độ cực quyền giống như một tế bào ung thư, nó sẽ chiếm hết tư nguyên của Trung Quốc, tăng trưởng vô hạn mà không có hạn chế hay ước chế gì, cuối cùng sẽ đi đến con đường tử vong.

‘Thiên nhân tam sách’ thời Hán Vũ Đế (trị vì từ 141 TCN – 87 TCN) và ‘Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ’ 1776.

Nhìn vào thời điểm xuất hiện ‘Thiên nhân tam sách’ và ‘Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ’, chúng ta thấy rằng, hai bản này cách nhau khoảng 1800 năm nhưng lại giống nhau đến kỳ lạ.

Trong loạt bài lịch sử ‘Tiếu đàm phong vân’ phần 2 tập 29: ‘Thiên nhân tam sách’, Giáo sư Chương Thiên Lượng đã có một số nhìn nhận như sau. 

Đầu tiên là nói một chút về lịch sử, đó là năm 141 TCN, Hán Cảnh Đế băng hà, Hán Vũ Đế Lưu Triệt năm ấy 16 tuổi kế vị. Chàng thiếu niên tuổi trẻ tài cao ấy đã nhận thức được tầm quan trọng của tính hợp pháp của một chính quyền. Về vấn đề tính hợp pháp của chính quyền, ở châu Âu mãi đến thời kỳ Khai sáng vào thế kỷ 17 18 (cách thời Hán Vũ Đế hơn 1800 năm) mới suy nghĩ sâu sắc để trả lời vấn đề trên, điều này cho thấy Hán Vũ Đế có một tầm nhìn thật sự cao xa.

Trong ‘Tư trị thông giám’ ghi lại rằng, sau khi kế vị, Hán Vũ Đế đã ban bố một chiếu thư hỏi vấn đề như sau: “Quân vương ba triều Hạ – Thương – Chu nhận mệnh từ Trời, dấu hiệu ở đâu? Biến hoá của thiên tai dị tượng, vì cớ gì mà xuất hiện?”.

Thời cổ đại, Hoàng đế hạ chiếu để trưng cầu ý kiến trị quốc của đại thần gọi là ‘sách vấn’ (策問: hỏi về sách lược), đại thần trả lời thì gọi là ‘đối sách’ (對策: đối đáp sách lược).

Sau khi Hán Vũ Đế đề xuất vấn đề ấy, có một vị Đại Nho là Đổng Trọng Thư đã giải đáp vấn đề của Hán Vũ Đế một cách rất hệ thống và đầy đủ. Hán Vũ Đế xem xong lại hỏi tiếp, tức là ‘sách vấn’ lần 2, Đổng Trọng Thư lại trả lời, Hán Vũ Đế ‘sách vấn’ lần 3, Đổng Trọng Thư lại trả lời, tổng cộng 3 lần như vậy gọi là ‘Tam sách’ (三策).

Bởi vì lúc ban đầu Đổng Trọng Thư có đề cập đến một khái niệm gọi là ‘Thiên nhân tương dữ’ (天人相與), tức là mối quan hệ giữa Trời và người; cộng với Đổng Trọng Thư 3 lần ‘đối sách’, cho nên toàn bộ sách lược dâng lên Hoàng đế của ông gọi chung là ‘Thiên nhân tam sách’ (天人三策).

Một trong hai nội dung đề cập trong chiếu thư của Hán Vũ Đế chính là vấn đề tính hợp pháp của chính quyền: dựa vào điều gì để làm Hoàng đế, dựa vào điều gì để chấp chính? Điều này đã được Đổng Trọng Thư trả lời một cách hoàn mỹ trong ‘Thiên nhân tam sách’, gói gọn trong 4 chữ: Quân quyền Thần thụ (君權神授: Quyền vua Thần trao, cũng có thể dịch là quyền vua Trời trao).

Nhiều người Trung Quốc hiện đại cho rằng, cách nói này dường như Hoàng đế đang ‘Thần Thánh hoá’ quyền lực của mình, không ai được thách thức ‘quân quyền’ v.v. Nhưng là người có am hiểu sâu sắc về lịch sử, Giáo sư Chương không cho rằng như vậy.

Giáo sư Chương chia sẻ rằng, nếu chúng ta xem thật kỹ khái niệm ‘quân quyền Thần thụ’, sẽ phát hiện rằng nó gồm 2 phương diện. 

Thứ nhất, Đổng Trọng Thư giải thích Hán Cao Tổ Lưu Bang có được thiên hạ là nhờ ‘Thiên mệnh’.

Thứ hai, Đổng Trọng Thư đề xuất rằng: nếu một vương triều có thể tiếp tục, thì phải xem quốc vương có làm được 4 điểm này hay không. Đó là: “Thuận theo Trời, đứng bên Đạo, bác ái vô tư, rải rộng Đức, làm điều Nhân, thiết lập Lễ Nghĩa” (Pháp Thiên lập Đạo, bác ái vô tư, bố đức thi nhân, thiết nghĩa lập lễ). Quốc vương làm được 4 điều trên thì mới là quốc vương hợp pháp.

Do đó chúng ta thấy rằng, khái niệm ‘Quân quyền Thần thụ’ không chỉ thiết lập được tính hợp pháp, tính Thần Thánh của ‘quân quyền’ (quyền vua); mà còn đặt định giới hạn hoặc phạm vi của ‘quân quyền’, tức là ‘quân quyền’ cũng có giới hạn. Bởi vì Trời cấp ‘quân quyền’ không phải để quân vương hưởng thụ dục vọng, mà là phải thông qua nền chính trị nhân đức để trải khắp yêu thương đến muôn dân.

Nếu quân vương vi phạm nghĩa vụ mà Trời cấp, thì vương triều này sẽ bị lật đổ. 

Giáo sư Chương thấy rằng, nếu chúng ta xem một chút yêu cầu về chấp chính của Hoàng đế, sẽ phát hiện nó giống với Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ. 

Mở đầu Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ viết rằng: 

Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng: mọi người sinh ra đều bình đẳng, Tạo Hóa đã ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Sau đó Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ còn nói:

Nếu một chính phủ phương hại những quyền ấy của bá tánh, bá tánh có quyền đứng lên lật đổ nó, để kiến lập một chính phủ mới.

Là người nghiên cứu lịch sử, Giáo sư Chương nhìn nhận, điều này vô cùng giống với ‘Thiên nhân tam sách’ mà Đổng Trọng Thư giảng, đó là nếu Hoàng đế có đạo đức bại hoại, tàn hại bách tính, làm nhiều việc xấu… thì lão bách tính có quyền lật đổ kẻ ấy. 

Nếu từ góc độ này mà giảng chúng ta sẽ thấy rằng: một vương triều có thể tiếp tục, nó phải có ước thúc của ‘Thiên mệnh’ và ‘dân ý’. 

Có một số người cho rằng xã hội quân quyền của Trung Quốc là xã hội chuyên chế, nhưng đây là cách nói sai lầm, bởi vì ‘Quân quyền Thần thụ’ có hạn chế đối với Hoàng đế. Điều này rất giống với Cách mạng Quang Vinh vào thế kỷ 17 ở châu Âu, đã ký một đạo luật, thông qua Hiến pháp để ước chế quân quyền. Còn ở Trung Quốc thì thông qua Thiên Đạo để ước chế quân quyền. 

Do đó Giáo sư Chương nhìn nhận, xã hội hoàng triều truyền thống Trung Quốc không phải là một xã hội chuyên chế, cực quyền, mà là một xã hội chuẩn ‘quân chủ lập hiến’ bởi vì có giới hạn quân quyền.

Tư tưởng Nho gia trong cách làm kinh tế ở phương tây

Trong cuốn ‘Trung Hoa văn minh sử’ quyển thượng, khi giảng về tư tưởng Nho gia, Giáo sư Chương từ cuộc đời Khổng Tử đã liên hệ đến tư tưởng Nho gia có nét giống với việc giảm thuế của nước Mỹ.

Khi Khổng Tử chu du liệt quốc qua nước Tề, vua Tề hỏi về cách trị lý quốc gia, Khổng Tử trả lời rằng: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử”, ý tứ là vua phải giữ đạo của vua là ‘nhân ái’, thần giữ đạo của thần là ‘trung thành’, cha giữ đạo của cha là ‘từ ái’ (hiền từ yêu thương), còn con giữ đạo con là ‘hiếu thuận’, nói cách khác mỗi người nên làm tốt chức trách của mình. Khổng Tử còn nói thêm rằng: “Chính tại tiết tài” (政在節財), ý tứ là trị lý quốc gia phải tiết kiệm, không được thu thuế quá cao.

Còn trong ‘Luận ngữ – Nhan Uyên’, học trò của Khổng Tử là Hữu Nhược cũng nói về tư tưởng Nho gia trong việc trị quốc. Vua Lỗ Ai Công hỏi Hữu Nhược rằng: “Năm nay mất mùa, thuế không đủ tiêu, làm sao bây giờ?”. Hữu Nhược đáp: “Sao không thu thuế theo ‘pháp triệt’ (mười phần thu một, tức thuế 10%)”. Lỗ Ai Công nói: “Mười phần thu hai còn không đủ, huống hồ thu theo pháp triệt”. Hữu Nhược đáp: “Trăm họ no đủ thì làm sao vua thiếu được? Trăm họ thiếu thốn thì làm sao vua đủ được?”.

Từ hai đoạn đối thoại trên, chúng ta có thể thấy rằng Nho gia có 2 đặc điểm: Một là ‘tạng phú ư dân’ (藏富於民: chứa đựng giàu có ở dân chúng) và ‘hạ thấp thu thuế’.

Từ câu chuyện trên, Giáo sư Chương liên hệ đến câu chuyện thời Tổng thống Ronald Reagan.

Tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ – Ronald Reagan. Ảnh Wikipedia.

Từ Thế chiến 2, nước Mỹ luôn ở trong trạng thái chiến tranh hoặc chuẩn bị chiến tranh. Trong Thế chiến 2 là tham gia chiến tranh, đến những năm 50 là chiến tranh Triều Tiên, những năm 60 là chiến tranh Việt Nam, sau đó là Chiến tranh lạnh với Liên Xô. Đến cuối những năm 70, nước Mỹ ở trong tình trạng lạm phát và thất nghiệp cao.

Khi Ronald Reagan lên làm Tổng thống, ông đã làm cách gì để vực dậy nền kinh tế Mỹ? Bấy giờ nếu thu thuế thấp thì chính phủ không có nguồn thu. Nhưng ông lại làm cách này: giảm thuế. Tại sao ông lại làm như vậy? Bởi vì nếu thuế quá cao, người dân làm nhưng không được hưởng thì sẽ không muốn làm, kết quả dẫn đến chính phủ cũng không có nguồn thu thuế.

Thời ông làm Tổng thống đã giảm thuế trên quy mô lớn, ông giảm thuế thu nhập cá nhân từ 70% xuống còn 28%, giảm thuế doanh nghiệp từ 46% xuống còn 33%. Lúc đó nhiều người cho rằng: giảm thuế thì chính phủ sẽ ít khoản thu. Nhưng thực tế không phải như vậy. Giảm thuế sẽ khuyến khích người dân làm việc để tạo ra nhiều của cải hơn. Tuy thuế giảm nhưng trên thực tế nguồn thu chính phủ lại tăng.

Ông không chỉ giải quyết vấn đề lạm phát, mà còn tăng thu nhập chính phủ. Năm 1980 thu nhập của chính phủ là 517 tỷ đô, thì đến năm 1990 (qua 2 nhiệm kỳ của ông) đã tăng gần gấp đôi, tức 1030 tỷ đô.

Từ câu chuyện trên, Giáo sư Chương nhìn nhận rằng: về lý niệm chân chính, thì trong rất nhiều vấn đề, cả đông và tây đều rất giống nhau. Khổng Tử nói “Chính tại tiết tài” (chính trị nằm ở việc tiết kiệm tài), hay như đệ tử của ông nói không được thu thuế cao v.v. những điều trên rất giống với lý niệm kinh tế tự do của nước Mỹ.

***

Từ những câu chuyện về thiết kế chính trị, mô hình xã hội lý tưởng, hay cách làm kinh tế của chính phủ v.v. chúng ta thấy rằng cả đông và tây đều có những điểm giống nhau đáng kinh ngạc. Có người cho rằng văn hoá đông – tây tương thông về lý niệm, nhưng một số khác lại nói tư tưởng đông – tây ‘không hẹn mà gặp’. Dù thế nào thì những điều tinh hoa truyền thống ấy (phương đông hay phương tây cũng vậy) rất đáng để chúng ta bảo tồn, gìn giữ và phát huy.

Mạn Vũ