Nghe chàng muốn đòi lại thanh bảo kiếm là vật đính ước, lòng nàng đau khổ vật vã, nhưng không hề biện giải, cũng không níu kéo, nàng tay trái đưa bao kiếm cho chàng, tay phải cứa ngang lưỡi kiếm vào cổ, ngọc nát hương tan đau đớn thay!

Nàng Vưu Tam Thư, hay Chị Ba Vưu, say đắm Liễu Tương Liên là thế, kết liễu cũng bởi tại chàng, nhưng sao nàng lại nói rằng “với chàng chẳng liên quan”?

Lần đầu gặp gỡ đã quyết tâm ngoài chàng ra sẽ không lấy ai khác

Vưu Nhị Thư và Vưu Tam Thư là hai cô em gái cùng cha khác mẹ của Vưu thị, vợ hai Giả Trân bên phủ Đông nhà họ Giả. Mặc địa vị hèn mọn, gia cảnh bần hàn, Tam Thư tính tình lại rất đanh đá, ghê gớm, sắc sảo, nàng tự cho mình cũng như các cô gái cành vàng lá ngọc, tuyệt không thể bị người khác chà đạp.

Những cô gái bình thường đối với những người đàn ông có tiền có thế trong Giả phủ thì đều chạy theo như vịt, nhưng Chị Ba lại không thèm để mắt đến, nhất định phải tìm được người tâm đầu ý hợp mới thôi.

Khi Liễu Tương Liên đóng vai học trò trên sân khấu, Chị Ba Vưu bên dưới sân khấu vừa nhìn thấy thì đã đem lòng cảm mến, thề rằng cả đời sẽ không lấy ai khác ngoài anh ta. Cô nói với Giả Liễn: “Nếu chàng trai họ Liễu ấy đến hỏi cưới, tôi sẽ lấy anh ta. Kể từ hôm nay, tôi sẽ ăn chay niệm Phật, chỉ chăm sóc mẫu thân, chờ người ấy đến thì sẽ gả cho chàng. Người ấy một năm không đến, thì chờ một năm; mười năm không đến thì chờ mười năm. Nếu người ấy chết đi, thì đành cắt tóc đi tu, ăn chay niệm phật, chứ quyết không lấy ai nữa”.

Chị Ba Vưu còn rút cây trâm ngọc ở trên đầu xuống, bẻ làm đôi, nói rằng: “Nếu tôi nói sai lời thì cũng như cây trâm này!”. Chị Ba là người dứt khoát, như đinh đóng cột, ngoài việc hầu hạ mẹ ra, chỉ yên phận làm ăn, một lời nói, một cử chỉ, chị ta đều giữ đúng mực. Một thiếu nữ mới mười mấy tuổi, mới chỉ gặp người ta một lần đã thề cả đời không lấy ai khác ngoài anh ta, đủ thấy tình chấp nặng đến thế nào. 

Hồi thứ 66 – Hồng Lâu Mộng “Vưu Tam Thư mong chờ được gả cho Liễu Tương Liên”, tranh vẽ màu của họa sư Tôn Ôn đời nhà Thanh.

Liễu Tương Liên được người đời gọi là “anh chàng mặt lạnh”, là kẻ du hiệp tứ phương, xuất thân trong một gia đình quan võ đã thất thế, người rất phong nhã, nhưng bụng rất lạnh nhạt, đối với nhiều người không có tình nghĩa gì cả. 

Liễu Tương Liên cũng tự nói rằng phải tìm được cô gái tuyệt đẹp và phẩm hạnh xuất chúng thì mới lấy. Khi Giả Liễn làm mai Chị Ba, khen ngợi phẩm hạnh của Chị Ba, chàng ta liền nhận lời ngay, đưa ra một thanh kiếm là vật báu của tổ tiên để lại làm tín vật, rồi cũng phát thệ: “Dù có nay đây mai đó, cũng quyết không bao giờ bỏ thanh kiếm này”.

Chị Ba Vưu nhận được thanh kiếm, liền rút ra xem thử, “thấy mặt trên chạm rồng nuốt quỳ chầu, châu ngọc lóng lánh, khi cầm lên xem thì phía trong lại là hai lưỡi kiếm úp làm một, một bên khắc chữ “Uyên” một bên khắc chữ “Ương”, lạnh toát, sáng loáng như hai làn sóng mùa thu. Chị Ba mừng quá, treo ngay ở buồng thêu của mình. Mỗi ngày nhìn thấy thanh kiếm, chị lại mừng là suốt đời sẽ có chỗ nương thân” (Hồi 66 – Hồng Lâu Mộng).

Vưu Tam Thư trong “Tập tranh các nhân vật Hồng Lâu” do họa sư Cải Kỳ đời nhà Thanh vẽ.

Đúng là thanh kiếm uyên ương này lúc đầu được dùng để làm vật đính ước của Vưu Tam Thư và Liễu Tương Liên, nhưng cuối cùng lại chặt đứt cái tình chấp si dại của cả hai người.

“Núi ngọc nhào nghiêng khó đỡ lên” 

Mấy tháng sau, Tương Liên vào kinh để đón dâu, nhưng trong tâm vẫn có chút nghi ngờ: “Xưa nay mình chưa có qua lại với Tam Thư, không biết nàng ta vì sao lại chung tình với mình đến vậy?”. Anh ta mới đi tìm Bảo Ngọc giải tỏa nghi ngờ. 

Bảo Ngọc cười nói:

– Mừng cho anh nhé! Mừng cho anh nhé! Khó mà được người đẹp như thế lắm! Thực là bậc tuyệt sắc xưa nay có thể sánh với anh được.

– Nếu thế thì thiếu gì người hỏi? Sao lại chỉ để ý đến tôi? Vả chăng ngày thường tôi với cô ấy không quen biết nhau lắm, làm gì cô ấy lại tha thiết đến như thế? Khi đi đường anh Liễn cứ xoắn xuýt hai ba lần, bảo tôi phải nhận lời ngaỵ. Có lẽ nào nhà gái lại đi theo nhà trai hay sao? Tự tôi đâm ra nghi ngờ rất băn khoăn là không nên đem thanh kiếm làm của tin. Vì thế sau tôi nghĩ đến anh, có thể đến hỏi kỹ đầu đuôi việc này mới được.

– Anh là người cẩn thận kỹ càng, sao đã gửi đồ làm tin lại còn ngờ vực? Anh vẫn nói là cần một người tuyệt sắc, nay có được người rồi, anh còn nghi ngờ gì nữa?

– Anh đã không biết lai lịch người ấy, sao lại biết người ấy là tuyệt sắc?

– Các cô ấy là con riêng bà kế mẫu chị Trân đưa đến. Tôi đã gặp họ ở bên ấy một tháng, sao lại không biết? Thật là một đôi “vưu vật”, mà khéo cô ấy lại họ Vưu.

Khi ấy, mấy chuyện loạn luân trong Giả phủ đã lan truyền ra ngoài, Tương Liên tự nhiên cũng được biết. Dù hoa sen có tinh khiết đến mấy, một khi đã ở trong bùn thì có thể không bị vấy bẩn sao? Tương Liên cảm thấy hoài nghi về phẩm hạnh của Tam Thư, liền xua tay lắc đầu nói với Bảo Ngọc rằng: “Việc này không xong rồi! Nhất định không thể lấy được! Trong phủ Đông nhà anh, ngoài hai con sư tử đá ra, dù con mèo, con chó cũng chẳng còn trong sạch nữa. Tôi không thèm làm anh chàng rùa đen đâu!”.

Tương Liên tìm đến Giả Liễn để hủy hôn, đòi lại thanh kiếm là vật đính ước, không ngờ Tam Thư ở trong phòng đã nghe thấy hết cả. Nàng thầm nhủ: “Chờ mãi hắn mới đến, bỗng lại trái lời hứa, chắc là hắn đã nghe được câu gì ở trong phủ Giả, cho mình là bọn dâm đãng vô sỉ, nên không thèm lấy làm vợ nữa. Bây giờ để cho hắn ra ngoài nói chuyện từ hôn với Giả Liễn, chắc Giả Liễn không những không có cách gì đối xử, lại đâm ra cãi nhau, mình cũng chẳng ra gì”. 

Vừa nghe thấy Giả Liễn sắp đi ra với Tương Liên, chị ta lấy kiếm xuống, giấu lưỡi kiếm có chữ “Ương” vào trong nách, rồi chạy ra nói:

– Các anh không cần phải ra ngoài bàn nữa. Tôi trả lại vật làm tin của anh đây.

Nói xong, nước mắt chảy đầm đìa, tay trái đưa kiếm và bao cho Tương Liên, tay phải quay lại đưa ngang lưỡi kiếm cứa mạnh vào cổ, lập tức máu tươi tóe ra, nàng ngã xuống ngay dưới chân Tương Liên. Đáng thương thay:

Hoa đào vò nát rơi màu đỏ;
Núi ngọc nhào nghiêng khó đỡ lên!

(Hồi 66 – Hồng Lâu Mộng).

Ở đây tác giả Tào Tuyết Cần dùng câu “Núi ngọc nhào nghiêng khó đỡ lên” để hình dung tư thế ngã của nàng. “Núi ngọc” vốn là để chỉ những danh sĩ có phẩm hạnh trong sạch thời Ngụy Tấn, ở đây dùng để ví với Tam Thư, có thể thấy Tào Tuyết Cần có ý khen ngợi cốt cách của nàng.

“Hổ thẹn vì tình” mà tỉnh ngộ, từ nay với chàng chẳng liên quan

Chị Ba lấy cái chết để chứng minh cho sự trong sạch của mình, cuối cùng “đến với bản chất trong sạch, rời đi vẫn trong sạch”. 

Tương Liên đỡ lấy thi thể của nàng mà khóc lớn rằng: “Tôi không ngờ người ấy có khí tiết như thế! Thực đáng kính mà, ta thật có phúc mà không biết quý trọng!”. Một lúc áo quan mua về, khâm liệm cho nàng xong, Tương Liên vỗ vào áo quan khóc một lúc rồi mới từ biệt ra đi. Ra khỏi cửa, anh ta không biết mình nên đi đâu, âm thầm rũ rượi, nghĩ đến việc xảy ra vừa rồi, thật là người con gái đẹp đẽ có khí tiết, hối cũng không kịp! (Hồi 66 – Hồng Lâu Mộng).

Tam Thư chết rồi, nàng vào giấc mộng nói lời từ biệt sau cùng, nàng một tay cầm thanh kiếm Uyên Ương, một tay cầm quyển sổ, khóc nói với Tương Liên: “Thiếp vì si tình, chờ chàng đã năm năm rồi, không ngờ chàng lại lạnh nhạt như thế. Thiếp đành lấy cái chết để báo lại mối si tình ấy. Nay thiếp vâng mệnh cô tiên Cảnh Ảo đến nơi Thái Hư ảo cảnh để ghi tên một bọn ma tình đã có ở trong án. Thiếp không nỡ chia tay ngay, nên đến đây để được gặp chàng lần cuối. Từ nay trở đi, chúng ta không bao giờ gặp nhau nữa!”.

Nàng không chút oán trời trách người, đối với Tương Liên, người mà nàng say đắm gửi sai tình cảm, nàng cũng không có một lời oán trách, nhẹ nhàng đoạn tuyệt: “Thiếp đến từ trời tình, đi từ đất tình. Kiếp trước đã lầm vì tình, kiếp này lại xấu hổ vì tình. Bây giờ thiếp đã tỉnh ngộ rồi, vì sự si tình của mình mà cảm thấy hổ thẹn. Thiếp mặc dù đã tự sát, nhưng đây là chuyện riêng của thiếp, với chàng chẳng liên quan”.

Tam Thư đã “hổ thẹn vì tình” mà tỉnh ngộ, nàng đã hiểu ra nợ tình trong kiếp này, tất sẽ có nghiệt duyên, thiếu nợ thì phải tự hoàn trả, thực ra cũng không có quan hệ gì với người khác, đúng là không thiếu nợ nhau nên cũng không liên quan. 

Tương Liên không nỡ, vội chạy đến kéo Tam Thư lại. Lúc này, một trận gió thơm thổi đến, nàng hất tay chàng ra, theo lệnh tiên cô Cảnh Ảo, nàng mang thanh kiếm trở về Thái Hư cảnh ảo, lòng không chút vướng bận.

Bi kịch nhân gian thức tỉnh Liễu Tương Liên và Vưu Tam Thư 

Nơi Thái Hư cảnh ảo, Tam Thư đã từng cầm kiếm đuổi theo Bảo Ngọc, muốn chặt đứt trần duyên của Bảo Ngọc. Như vậy xem ra, nàng từ biệt với chàng Liễu trong mộng, hẳn đây cũng là một điểm hóa cho Tương Liên chăng. Cuối cùng Tương Liên cũng rút ra thanh hùng kiếm chữ “Uyên” ra, cắt đi mái tóc xanh, đi theo vị đạo sĩ què chân xuất gia. 

Tam Thư vì sao lại mê tại nhân thế, sau khi chết mới hổ thẹn vì tình mà tỉnh ngộ? Thì ra, những việc nợ trăng tình gió, gái giận trai si ở cõi trần, cũng là một loại an bài của Thần giới. Trong Thái Hư cảnh ảo, có ty si tình, ty kết oán, ty sớm yêu, ty chiều hận, ty đêm khóc, ty ngày cười, cũng chính là nói, có bộ phận chuyên quản lý cái si tình kết oán, sớm yêu chiều hận, ngày cười đêm khóc của con người ta. Cũng chính là nói, các thứ tình cảm như: yêu hận tình thù, hỉ nộ ái ố, tất cả đều do thượng thiên thao khống. Những đôi trai si gái oán ở trong mê vì cái tình si mà làm ra những điều xằng bậy cũng là thân bất do kỷ, cái thân xác thịt nơi thế gian này nói đúng ra thì nó thật sự không phải là bản thân mình đâu!

Mọi người đều khen họ đúng thật là một cặp đôi hoàn hảo, một người nghĩa hiệp can đảm, hào hoa tiêu sái, một người khí tiết cương liệt, xinh đẹp tuyệt trần, nhưng ông Trời lại không tác thành cho họ, duyên mỏng mà cứ khăng khăng quấn lấy nhau. Cuối cùng là dùng một thanh kiếm uyên ương làm vật đính ước, thanh kiếm sắc bén đã chặt đứt tình duyên của hai người; thanh kiếm “Ương” đã cứa ngang cái cổ trắng ngọc của người con gái si tình, thanh kiếm “Uyên” đã đoạn dứt ngàn vạn phiền não của chàng trai

Đây là bi kịch của nhân gian, tình dày mà bạc mệnh, cuối cùng cũng đánh thức Liễu Tương Liên và Vưu Tam Thư, khiến cho hai người họ hoàn toàn đoạn dứt cái chấp mê lớn nhất, mỗi người đều quay về nơi chốn của riêng mình.

Giả Liễn giữa đường đứng ra làm mai cho Liễu Tương Liên, tranh vẽ màu của họa sư Tôn Ôn đời nhà Thanh.

Tác giả: Tần Thuận Thiên, Epoch Times
Vũ Dương biên dịch

Từ Khóa: