Tôn Tử sinh cùng thời với Lão Tử, Khổng Tử, Phật Thích Ca Mâu Ni. Đó là giai đoạn cuối Xuân Thu đầu Chiến Quốc với rất nhiều thay đổi. Nhưng dù biến động thế nào, cách ông xuất hiện, thành danh và rút lui khỏi vũ đài lịch sử giống như một cao nhân…

Trước thời Xuân Thu cũng có người tổng kết về dụng binh, nhưng những thứ được truyền lại không biết là thật hay giả, hơn nữa còn rất ít, đồng thời cũng không có ví dụ trận pháp cụ thể. 

Ví như Tam lược lục thao (của Khương Tử Nha) đều mang tính triết học là chính, khả năng vận dụng có sự sai biệt. 

Tôn Tử sinh đúng vào cuối thời Xuân Thu, lúc này hình thức chiến tranh đã phát sinh biến hoá rất lớn. 

Về hình thức chiến tranh

Cuối Xuân Thu đầu Chiến Quốc, hình thức chiến tranh đã phát sinh biến hoá. Mục đích của nó không phải là khiển trách tội lỗi đối phương, mà là chuyển sang thôn tính đất đai, đoạt lấy nhân khẩu và tài phú. 

Lúc này đã xuất hiện những trận chiến lớn và kéo dài mấy năm, thậm chí mười mấy năm. Còn trước thời Xuân Thu thì hai bên giao chiến là có hẹn trước, đến ngày này giờ này là hai bên dàn trận đánh nhau. Có khi trong 1 ngày đã kết thúc trận chiến.

Về vũ khí 

Vũ khí trước thời thời Xuân Thu chủ yếu bằng đồng. Đồng thì mềm, nhiệt độ nóng chảy khoảng 1085 độ C, cho nên khả năng sát thương không cao. 

Đến cuối thời Xuân Thu đã chuyển sang vũ khí bằng sắt. Sắt có nhiệt độ nóng chảy cao hơn đồng, khoảng 1538 độ C. Đồng thời trữ lượng sắt phong phú hơn đồng, giá thành của sắt cũng rẻ hơn. Thời ấy đã xuất hiện những bậc thầy luyện kiếm như Can Tương, Mạc Tà, Âu Dã Tử…

Chất lượng vũ khí thời ấy như thế nào?

Năm 1965, người ta đã khai quật được một thanh kiếm, trên đó có khắc 8 chữ triện: Việt Vương Câu Tiễn tự dụng chi kiếm (kiếm của Việt Vương Câu Tiễn).

Việt Vương Câu Tiễn thuộc cuối thời Xuân Thu, cách chúng ta khoảng 2500 năm. Nhưng khi đào lên, bảo kiếm lấp lánh phát quang, không có chút gỉ sét, giống hệt như mới. Khi người ta trắc định độ sắc bén của kiếm, họ đã dùng 20 tờ giấy, cầm kiếm vạch nhè nhẹ lên một đường, 20 tờ giấy in chốc lát tách ra làm đôi. 

Kỹ thuật luyện kim thời đó thực sự giống như trong truyền thuyết. Những bậc thầy kim khí như Can Tương, Mạc Tà có thể luyện ra những ‘thần binh lợi khí’ như thế.

Về chiến thuật công – thủ

Trước thời Xuân Thu, chiến tranh là dùng xa trạm. Xa trạm chính là có 4 ngựa kéo 1 xe. Trên xe có 3 người: 1 người đánh xe, 1 người dùng qua (vũ khí dài giống thương), 1 người dùng cung tiễn. Phía sau dẫn theo 72 bộ binh cùng 25 người làm công tác hậu cần. Như vậy một xa trạm có  100 người (3 + 72 + 25 = 100). 

Xa trạm còn gọi là Thặng – 乘 (có bản đọc là Thừa). Trong sách cổ thường gặp những câu nói về nước lớn là ‘vạn thặng chi quốc’. Vạn thặng = 1vạn*100 = 100 vạn. ‘Vạn thặng chi quốc’ là nước có 100 vạn dân binh. 

Đến cuối thời Xuân Thu đầu thời Chiến Quốc, xa trạm chuyển thành kỵ binh (quân đi ngựa). Trong Phong vân mạn đàm (Kỳ 60): Triệu vương khiến quốc gia hưng thịnh, phế trưởng lập thứ mộng xâm lăng, có nói về Triệu Vũ Linh Vương thực hiện chính sách ‘Hồ phục kỵ xạ’ (mặc trang phục Hồ, chú trọng huấn luyện kỵ binh và kĩ năng bắn cung). ‘Kỵ’ chính là ‘kỵ binh’.

Vì cuối Xuân Thu đầu Chiến Quốc có nhiều thay đổi trong chiến tranh như thế, cho nên đây là ‘thời đại Binh gia’.

Như đã nói ở phần 1, dù Tôn Vũ là đại tướng bách chiến bách thắng, nhưng ông không hề cổ vũ chiến tranh. ‘Không đánh mà khuất phục được binh người’ mới là tốt. Nhưng khi ông đã luyện binh thì cực kỳ nghiêm minh. Ông có thể khiến nữ nhân trở thành binh sĩ. 

Trong ‘Sử ký – Tôn Tử, Ngô khởi liệt truyện’ có câu chuyện rất nổi tiếng là ‘Mỹ Cơ diễn trận’ (chú: cơ là tiếng mỹ xưng đối với phụ nữ thời cổ. Như Ngu Cơ, Thái Văn Cơ…), từ trong đó đã xuất hiện câu nói bất hủ: 

“Tướng ở trong quân, có thể không nghe lệnh vua”

Hạp Lư hỏi Tôn Tử:

– Có thể thử về cách nghiêm quân không?

Tôn Tử thưa:

– Có thể.

Hạp Lư hỏi tiếp:

– Có thể thử bằng cung nữ không?

Tôn Tử vẫn thưa:

– Có thể.

Thế là Ngô vương triệu những mỹ nhân từ trong cung ra, cả thảy 180 người. Tôn Tử chia làm 2 đội, lấy 2 người thiếp yêu nhất của vua làm đội trưởng, bắt họ cầm kích. Tôn Tử bắt đầu giải thích quân kỷ và bố trí nhiệm vụ cho từng người. Ông nói:

– Khi mới bắt đầu các ngươi đều phải ngồi xổm. Sau tiếng trống thứ nhất, toàn bộ đều đứng lên. Sau tiếng trống thứ hai, đội bên trái quay phía phải, đội bên phải quay phía trái. Khi đến hồi trống thứ ba, phải làm được giống như đang giao chiến.

Sau đó ông hỏi các cung nữ của Hạp Lư có hiểu không. Bọn họ nói đều hiểu rồi.

Tôn Tử bắt đầu dặn bảo quan đánh trống. Sau tiếng trống thứ nhất, những cung nữ này người đứng người ngồi, có người còn ngồi xổm ở đó. Tôn Tử bèn nói:

– Lần thứ nhất nếu các người không nghe quân lệnh thì thuộc về ‘hiệu lệnh chưa rõ’, chính là chủ tướng không nói rõ mệnh lệnh. 

Tôn Tử dặn lại, sau đó tiếp tục đánh trống. Đám cung nữ lại cả cười. Tôn Tử mới nói: 

– Giải thích không tường, hiệu lệnh không tỏ, là tội người làm tướng. Nhưng đã rõ mà không tuân là tội của binh. 

Tôn Tử muốn chém hai người đội trưởng. Ngô vương trên đài thấy Tôn Tử sắp chém hai thiếp yêu của mình, vội sai người xuống truyền lệnh:

– Quả nhân biết tướng quân giỏi dùng binh rồi. Nếu không có 2 thiếp ấy ta ăn không ngon ngủ không yên. Xin đừng chém họ. 

Tôn Tử mới nói một câu rất nổi tiếng như thế này: 

– Thần đã nhận mệnh lệnh làm tướng, tướng ở trong quân, có thể không nghe lệnh vua. 

Ông bèn ra lệnh chém 2 người đội trưởng rồi bảo 2 người khác lên thay. Tiếp đó ông lại ra lệnh, đám cung nữ thất sắc, đều răm rắp làm theo chỉ lệnh của Tôn Tử. 

Tôn Tử có thể khiến nữ nhân trở thành binh sĩ. Nhờ quân đội có kỷ luật như vậy nên sau này nước Ngô nhỏ bé đã tiêu diệt được nước Sở hùng mạnh. 

Tôn Tử ‘công thành thân thoái’

Tôn Tử sinh cùng thời với Lão Tử, Khổng Tử, Phật Thích Ca Mâu Ni. Cách ông xuất hiện và cách ông rút lui khỏi vũ đài lịch sử giống như một cao nhân. 

Trong ‘Sử ký’ ghi chép rất giản lược về ông, nói Tôn Vũ là người nước Tề, sau đó đến Ngô rồi viết 13 thiên Binh pháp. Còn trong ‘Đông Chu liệt quốc chí’ ghi chép rằng Tôn Tử cuối cùng ‘công thành thân thoái’. 

Sau khi giúp nước Ngô diệt nước Sở, phong công vĩ nghiệp của Tôn Tử lên đến cực điểm. Nhưng ông không muốn làm quan, chỉ muốn quay về núi sống ẩn cư. Ngô vương Hạp Lư nhờ Ngũ Tử Tư níu giữ Tôn Tử, Tôn Tử đã nói một đoạn lời như thế này: “Tử Tư có biết đạo Trời không? Nóng qua lạnh đến. Xuân đi thu đến. Ngô vương cậy nước cường thịnh, tứ bề vô lo, ắt sinh kiêu ngạo. Công thành mà không thoái, ắt có hoạ về sau”.

Ngũ Tử Tư không nghe, Tôn Tử bèn một mình về núi. Khi ông đi, Ngô vương Hạp Lư tặng ông rất nhiều tiền. Tôn Tử đem tiền tặng cho bách tính ven đường, rồi ẩn đi biệt tích…