Chủ trương ‘Thanh trừng Đảng’ của Tưởng Giới Thạch đã mang đến sự ổn định trong trật tự xã hội Trung Quốc, đồng thời đưa Trung Quốc thoát ly khỏi vận mệnh trở thành vật hy sinh của Liên Xô vào thời điểm đó. 

Biến cố “412” Thanh trừng Đảng 

Vào ngày 2 tháng 4 năm 1927, Ủy ban Kiểm tra Trung ương Quốc Dân Đảng Trung Quốc đã tổ chức phiên họp toàn thể để ký kết “Nguyên tắc thanh trừng Đảng” và tổ chức thành lập “Ủy ban Thanh trừng Đảng”, tiến hành thực hiện các bước chuẩn bị cho công tác thanh Đảng kháng Cộng (ĐCSTQ).

Đến ngày 5 tháng 4 năm 1927, Stalin đã có buổi diễn thuyết với 3.000 cán bộ đảng viên tại Điện Kremlin, trong đó đề cập đến nội dung sau: “Tưởng Giới Thạch vẫn đang phục tùng mệnh lệnh. Quốc Dân Đảng là một tập thể liên hợp, tương tự như một quốc hội cách mạng, bao gồm cánh hữu, cánh tả và ĐCSTQ. Tại sao cần áp dụng phương pháp tập kích bất ngờ? Tại sao trong khi cánh hữu vẫn đang chiếm đại đa số và thuận theo ý kiến của chúng ta mà chúng ta lại muốn trục xuất họ? Chỉ cần vẫn còn dùng được, người nông dân sẽ không bao giờ từ bỏ một con ngựa già mỏi mệt bất kham. Họ sẽ không thể đuổi nó đi. Chúng ta cũng như vậy. Khi cánh hữu đối với chúng ta không còn chỗ hữu dụng, chúng ta cũng không thể bỏ rơi họ. Trước mắt, chúng ta cần có cánh hữu. Bên trong cánh hữu tồn tại những con người có giá trị, họ đang chỉ huy quân đội, lãnh đạo quân đội trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa đế quốc. Tưởng Giới Thạch có lẽ không đồng tình với cách mạng, nhưng ông đang nắm quyền thống lĩnh quân sự, hơn nữa ngoài việc dẫn dắt quân đội phản đối đế quốc chủ nghĩa, ông ta sẽ không thể làm bất cứ điều gì khác. Ngoài ra, các nhân sĩ cánh hữu còn có nhiều mối liên hệ với các sĩ quan cấp cao của Trương Tác Lâm, nên vô cùng hiểu rõ phương cách cần làm như thế nào để áp chế nhuệ khí của bọn họ, không cần tiến hành ồ ạt tấn công cũng có thể khiến cho những đối tượng này hoàn toàn đứng về phía cách mạng. Hệ chính trị cánh hữu này đồng thời còn có mối quan hệ với các phú thương, nên có thể dễ dàng huy động nguồn tài chính từ phía các thương nhân giàu có đó. Vì vậy, sau này khi lực lượng cánh hữu đã hoàn toàn hết giá trị lợi dụng, thì họ cũng giống như những trái chanh đã vắt kiệt, sẽ bị mang đi ném bỏ.” (Trích từ “Đi vào Trung Quốc” của Peter Rand)

Trotsky đã trích dẫn lại những lời này để công kích Stalin, “Chỉ một vài ngày sau đã để ‘trái chanh bị vắt kiệt’ đó thâu tóm quyền lực và kiểm soát quân đội”, điều mà ông ấy ám chỉ chính là biến cố “412”.

Chủ trương kháng Trung Cộng, thanh lọc Đảng của Thái Nguyên Bồi

Thái Nguyên Bồi, người ủng hộ các cuộc thanh trừng chống Cộng sản. (Miền công cộng Wikipedia)

Thanh trừng ĐCSTQ là nguyện vọng của người dân Trung Quốc. Ngày 28 tháng 3 năm 1927, Thái Nguyên Bồi, Ngô Trĩ Huy, Trương Tĩnh Giang, Lý Thạch Tăng, v.v. đã đề cập đến ý đồ mưu phản của ĐCSTQ, nêu biện pháp ứng  phó với đội quân cảnh và triển khai “Phong trào bảo hộ Đảng cứu quốc”. Thái Nguyên Bồi đưa ra đề nghị cần thanh trừng loại bỏ toàn bộ những đảng viên ĐCSTQ ra khỏi hàng ngũ Quốc Dân Đảng.

Ngày 2 tháng 4, Ủy ban Kiểm tra Trung ương Quốc Dân Đảng Trung Quốc đã tổ chức phiên họp toàn thể để ký kết “Nguyên tắc thanh trừng Đảng” và tổ chức thành lập “Ủy ban Thanh trừng Đảng”, tiến hành thực hiện các bước chuẩn bị cho công tác thanh Đảng kháng lại Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Để bảo vệ thành quả của công cuộc Bắc Phạt, Tưởng Giới Thạch – người đứng đầu Quốc Dân Đảng đã quyết định khai trừ đảng viên ĐCSTQ ngầm ra khỏi hàng ngũ Quốc Dân Đảng, chính thức đoạn tuyệt mối quan hệ với ĐCSTQ. Ngày 12 tháng 4 năm 1927, triển khai đột kích đội quân cảnh công nhân do ĐCSTQ lãnh đạo ở Thượng Hải, phát lệnh truy nã và bắt giữ các đảng viên ĐCSTQ.

Ngay hôm sau, Tưởng Giới Thạch đã phát đi tuyên cáo: “Trung Chính có niềm tin sâu sắc vào dân tộc Trung Hoa, khi nắm trong tay quyền định đoạt đối với vận mệnh Trung Quốc, thì nhất định sẽ không bị chi phối thao túng bởi bất kỳ một thế lực ngoại quốc nào; Đồng thời tôi cũng tin tưởng rằng tại thời điểm này nếu Đảng ta không tách khai khỏi ĐCSTQ, thì tiến trình của cuộc cách mạng Quốc dân sẽ bị đứt đoạn rất khó giành được thành công.” (Trích “Thư gửi các đồng chí Quốc Dân Đảng Trung Quốc”, 1927)

Ngày 17 tháng 4, Hội nghị Chính trị Trung ương Quốc Dân Đảng, tuyên bố gửi điện thông báo thanh trừng Đảng, phát lệnh truy nã 197 thành viên chủ chốt của ĐCSTQ: Lãnh đạo cấp cao là Bảo La Đình, Trần Độc Tú, tiếp theo là Lâm Bá Cừ, Cù Thu Bạch, Mao Trạch Đông, Uẩn Đại Anh, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Trương Quốc Đào, Bành Phái, Đặng Dĩnh Siêu, Thái Hòa Sâm, Phương Chí Mẫn, v.v.

Vào ngày 18 tháng 4, Tưởng Giới Thạch đã dẫn đầu đoàn chính phủ Quốc dân định đô tại Nam Kinh, tuyên bố cáo thư đến quần chúng nêu cao tinh thần hăng hái ủng hộ chủ trương thanh lọc Đảng. Tưởng Giới Thạch thông cáo tới nhân dân toàn quốc: “Hiện tại dân tộc Trung Quốc chỉ có ba con đường: Một là quay trở về dưới sự cai trị của thế lực quân phiệt, phó mặc họ tùy ý cấu kết với chủ nghĩa đế quốc, không phương pháp, không mục đích, vì để tranh giành quyền lợi cá nhân mà dẫn đến chiến sự triền miên trong nhiều năm; Con đường thứ hai là đồng hành với ĐCSTQ, dưới quyền chỉ huy của đoàn thể ngoại quốc đặc thù, nhằm thi hành chế độ chuyên chính của thế lực khủng bố đỏ. Lựa chọn thứ ba là đi theo đường đại đạo của chủ nghĩa tam dân Quốc Dân Đảng,… Sử dụng sức mạnh nội tại, mưu cầu lợi ích và theo đuổi mục tiêu giải thoát chính dân tộc mình.” ( Trích trong “Thư cáo đồng bào toàn quốc về việc kiến đô Nam Kinh”, 1927)

Ngày 21 tháng 4, trong “Thư cáo toàn thể tướng sĩ”, Tưởng Giới Thạch đã vạch trần tội ác ‘Uông – Cộng cấu kết’: “Vào thời điểm quân đội Cách mạng Quốc dân của chúng ta đang liều mình cho trận huyết chiến tại Giang Tây, thì cũng chính là lúc ĐCSTQ tiến hành khởi phát bạo loạn ở Hồ Nam Hồ Bắc; Khi các tướng sĩ nơi tuyến đầu mặt trận Giang Tô, Chiết Giang của chúng ta đang đối mặt với giai đoạn chiến sự cam go kịch liệt nhất, thì phía Vũ Hán còn cố ý gây khó dễ, một xu lương bổng trợ cấp quân binh cũng không phát, một viên đạn cũng không giao cho chúng ta.” 

“Gần đây bọn họ còn mưu tính những thủ đoạn hiểm độc nhằm ly gián chia rẽ tướng sĩ trong Quân đội cách mạng Quốc dân của chúng ta, chính là lan truyền khắp nơi những thông tin bịa đặt vu khống Trung Chính đang theo đuổi chế độ độc tài, thiết lập hình thức quân phiệt mới.” “Bọn họ tại sao lại tung ra những lời đồn đại như vậy, nói một cách đơn giản, vốn dĩ Tổng tư lệnh luôn mong muốn ủng hộ Đảng, thực thi chủ nghĩa Tam Dân, không cho phép ĐCSTQ gây rối nhiễu loạn,.. Vì thế nên ĐCSTQ muốn đạt được mục đích tiêu diệt Trung Quốc, nhất định trước tiên phải hủy hoại cách mạng Quốc dân, nếu không thì kế hoạch lật đổ Tổng tư lệnh Quân đội Cách mạng Quốc dân là điều không thể thực hiện được.”

Dưới sự chỉ huy của ĐCS Liên Xô, ĐCS Trung Quốc đã phát động “Cuộc bạo loạn tại Nam Xương” vào ngày 1 tháng 8, sau khi thất bại tàn quân tháo chạy đến Quảng Châu, tại đây tiếp tục thực hiện một cuộc bạo loạn khác trong tháng 12, nhưng rất nhanh chóng sau đó cũng bị dập tắt. Trong quá trình bình định các cuộc bạo động vũ trang, Quân đội Quốc dân đã bắt giữ Phó Lãnh sự Liên Bang Xô Viết cùng một số đối tượng khác, đồng thời tại lãnh sự quán tiến hành tra soát và thu giữ các văn kiện tài liệu bí mật của ĐCS Liên Xô liên quan đến các cuộc bạo loạn được khơi mào tại Trung Quốc. Vào ngày 14 tháng 12, Chính phủ quốc gia chính thức đoạn tuyệt mối quan hệ ngoại giao với Liên Xô.

Tưởng Giới Thạch nêu rõ: “Đảng Cộng sản thực sự là kẻ thù duy nhất của Quốc Dân Đảng chúng ta, họ đã hủy hoại cuộc cách mạng quốc dân và gây trở ngại cho tiến trình thực thi chủ nghĩa tam dân; Nếu chúng ta muốn cách mạng Quốc dân thành công, thì không thể song song tồn tại cùng với Đảng Cộng sản Trung Quốc.”(“Nhận  ra kẻ thù duy nhất của chúng ta“, ngày 7 tháng 5 năm 1927)

Ngày 18 tháng 4 năm 1927, Chính phủ Quốc dân Nam Kinh do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo được thành lập, đối đầu với Chính phủ Quốc dân Vũ Hán của Uông Tinh Vệ, hình thành lên cục diện Ninh Hán đối địch.

Uông Tinh Vệ công khai phản đối biến cố “412” thanh trừng Đảng, tuyên bố khai trừ Tưởng Giới Thạch ra khỏi hàng ngũ đảng viên đồng thời phát lệnh truy nã, dẫn đến hình thành cục diện Ninh Hán phân tách biệt lập, Nam Kinh và Vũ Hán mỗi bên đều xây dựng một Trung ương Quốc Dân Đảng của riêng mình. Nhưng không lâu sau đó, Uông Tinh Vệ đã tận mắt chứng kiến mật lệnh của Stalin giao cho Quốc tế Cộng sản, được gọi là “Chỉ thị tháng năm”.

“Văn kiện nghị quyết đó có một vài điểm cần đặc biệt  lưu ý như sau: Điểm đầu tiên được nhắc đến là việc cải cách ruộng đất, chủ trương không trao quyền cho Chính phủ Quốc dân ra chỉ lệnh, yêu cầu bắt đầu từ cấp dưới, thực hiện tịch thu đất đai. Đây thực sự chính là nguyên nhân của biến cố Hồ Nam, cũng là căn nguyên dẫn đến phong trào nông dân tách khai khỏi Quốc Dân Đảng. Điểm thứ hai là không tịch thu đất đai của sĩ quan và binh lính nhằm tránh né sự phản đối của họ. Điểm thứ ba là cần tiến hành cải cách tổ chức Ủy ban Trung ương Quốc Dân Đảng Trung Quốc và tăng cường các đại biểu lãnh đạo đại diện cho giai cấp nông dân – công nhân trong Ủy ban Chấp hành. Kỳ thực chính là để gia tăng số lượng đảng viên cộng sản, nhưng họ lại không nói thẳng ra cho xong. Hơn thế nữa với thái độ công nhiên, không hề kiêng nể còn tuyên bố rằng kết cấu hiện tại của Quốc Dân Đảng nhất thiết phải được cải biến. Điểm thứ tư là cần trang bị quân sự cho 20.000 đảng viên chính phủ và tuyển chọn 50.000 phần tử nông dân – công nhân tham gia phát động bạo loạn vũ trang. Phần tử nông dân – công nhân mà họ nhắc đến, thực ra cũng chính là các phần tử cộng sản. Điểm thứ năm là yêu cầu ban lãnh đạo Quốc Dân Đảng tổ chức các phiên tòa cách mạng để phán xử các sĩ quan chống lại Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đây chính là hình thức “mượn tay” ban lãnh đạo Quốc Dân Đảng để thay thế Đảng Cộng sản Trung Quốc làm đao phủ, tự mình giết hại chính bản thân mình.” (Uông Tinh Vệ, “Quá trình ly khai phân tử cộng sản tại Vũ Hán” – Bài diễn thuyết tại Đại học Trung Sơn Quảng Châu vào ngày 5 tháng 11 năm Dân Quốc thứ 16)

Uông Tinh Vệ như người trong mộng mới choàng tỉnh dậy, bản thân cảm nhận được tai vạ sắp ập đến ngay trước mắt, vì thế liền từ bỏ lập trường thân cộng. Đến tháng 7, chính phủ Vũ Hán bắt đầu công cuộc thanh trừng Đảng một cách ôn hòa nhã nhặn, yêu cầu các đảng viên ĐCSTQ trong Chính phủ và nội bộ quân đội Quốc dân thoái xuất khỏi Đảng Cộng sản, nếu không sẽ bị cách chức. Tuy nhiên Uông Tinh Vệ vẫn luôn coi Tưởng Giới Thạch là “kẻ thù duy nhất của Quốc Dân Đảng”. Vì lấy đại cục làm trọng, Tưởng Giới Thạch một lần nữa từ chức vào tháng 8.

Lominadze (Beso Lominadze) – người được Stalin phái cử tới đã tổ chức hội nghị “87” tại Hán Khẩu, chính thức xác nhận Cù Thu Bạch sẽ chủ trì công tác lãnh đạo trong Trung ương ĐCSTQ. Hội nghị lần này cũng xác định rõ phương châm tổng quát chính là cách mạng đất đai và bạo động vũ trang chống lại Quốc Dân Đảng (“Bách khoa toàn thư lịch sử Đảng” trong hội nghị 87). Vào thời điểm đó, ĐCSTQ đã phát động hơn 100 cuộc bạo loạn vũ trang lớn nhỏ trên khắp Trung Quốc, trải rộng trên 140 thành phố trực thuộc 14 tỉnh.

Chính phủ Quốc dân Vũ Hán cũng từ bỏ quan điểm hòa bình hữu hảo với các phần tử ĐCSTQ. Vào ngày 8 tháng 8, Uông Tinh Vệ tiến hành triệu tập hội nghị mở rộng khẩn cấp của Trung ương Quốc Dân Đảng, đã thông qua nghị quyết “Sử dụng vũ lực để ly khai phần tử Cộng sản Trung Quốc”, trên toàn bộ khu vực thuộc quyền kiểm soát của chính phủ Quốc dân Vũ Hán, bắt đầu triển khai thực hiện việc bắt giữ, thi hành án đối với các phần tử của đảng này. Trong hội nghị lần này, Uông Tinh Vệ cũng tuyên bố “Thà giết nhầm một nghìn người, còn hơn bỏ sót chỉ một người”. Sau quá trình thanh trừng Đảng một cách toàn diện, phần lớn đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đăng báo thoái Đảng, số lượng đảng viên giảm mạnh từ 60.000 xuống còn 10.000 người. Các cuộc bạo loạn nổ ra tại những thành phố lớn của ĐCSTQ quy về kết cục thất bại thảm hại, đành tháo chạy lẩn tránh đến các vùng nông thôn và khu vực miền núi, cát cứ vũ trang.

Mãi đến cuối năm 1927, sau cuộc bạo loạn ở Quảng Châu, Uông Tinh Vệ mới đột nhiên tỉnh ngộ, nhưng đáng tiếc đã quá trễ, Uông cũng vì thế mà chán nản rút lui khỏi vũ đài chính trị. “Tình hình trên là như vậy, dưới góc nhìn của đệ khi đó, luôn cho rằng đồng chí Tưởng không đúng. Bởi vì đồng chí Tưởng khi chứng kiến đệ không chịu tiếp thu nghe lời khuyên can ngăn cản của mọi người vẫn khăng khăng muốn đến Vũ Hán, thì không chỉ cảm thấy mất niềm tin đối với các đồng chí tại Vũ Hán, mà đối với đệ cũng hoàn toàn thất vọng. Vì thế nên, không cần xét đến kết quả chuyến đi đến Vũ Hán của đệ ra sao, đã lập tức tiến hành nổi dậy tại Nam Kinh. Mà kết quả đệ đi Vũ Hán, đều không nằm ngoài dự liệu của đồng chí Tưởng, thật uổng công vô ích chỉ làm gia tăng thanh danh thế lực của bè lũ chống đối đồng chí Tưởng mà thôi. Vì vậy, sau sự việc này đệ nghiêm túc tự phê bình, không thể nói đồng chí Tưởng không đúng, mà là đệ đã sai, đây là sự thật, cũng không phải là lý lẽ gì trái với lương tâm.” (Uông Tinh Vệ,  “Quá trình ly khai phân tử cộng sản tại Vũ Hán” – Bài diễn thuyết tại Đại học Trung Sơn Quảng Châu vào ngày 5 tháng 11 năm Dân Quốc thứ 16)

Lúc này toàn bộ các phe phái trong Quốc Dân Đảng mới nhận ra chỉ có Tưởng Giới Thạch, người trước đây từng bị buộc từ chức mới đủ tài tiên kiến chi minh (khả năng tiên liệu) cùng tinh thần quả cảm quyết đoán, vì thế làn sóng ủng hộ trong quần chúng sục sôi, mời Tưởng Giới Thạch phục chức.

ĐCSTQ gọi ‘Thanh trừng Đảng’ của Tưởng Giới Thạch là “Vụ thảm sát đẫm máu đối với phần tử tri thức cấp thấp và tầng lớp công nhân – nông dân”, “cuộc đảo chính phản cách mạng “412” đã đánh dấu bước ngoặt thay đổi lớn giữa quan hệ giai cấp Trung Quốc và tình thế cách mạng. Phái hệ phản đối Quốc Dân Đảng do Tưởng Giới Thạch đứng đầu, từ giai cấp tư sản dân tộc cánh hữu hoàn toàn chuyển biến trở thành đại diện cho giai cấp tư sản đại địa chủ”. “Trong thời kỳ này, Tưởng Giới Thạch cùng với nhiều phần tử chủ nghĩa đế quốc, tài phiệt Giang Chiết và các thế lực lưu manh đã tổ chức liên tiếp hàng loạt cuộc đàm phán bí mật. Các cường quốc đế quốc chủ nghĩa còn ngang nhiên khích lệ Tưởng Giới Thạch “bắt tay hành động một cách nhanh chóng và quả quyết”, “bảo vệ khu vực phía nam sông Trường Giang không bị rơi vào tay ĐCSTQ”.

Tưởng Giới Thạch cùng với Phùng Ngọc Tường và Lý Tông Nhân đàm luận về quá trình Bắc phạt (Lĩnh vực công hữu wikipedia)

Chủ trương ‘Thanh trừng Đảng’ mang đến sự ổn định trật tự xã hội Trung Quốc

Phong trào công nhân của ĐCSTQ được triển khai một cách không hề kiêng nể, đại diện Quốc tế Cộng sản – Powell đã mô tả tình hình Vũ Hán vào thời điểm đó qua cụm từ “La Mã hoan lạc”: “Hàng ngàn hàng vạn công nhân làm thuê trong các mỏ quặng, công xưởng và nhà máy chế biến sôi nổi phát động các phong trào đình công, dưới sự lãnh đạo của các phần tử cấp tiến (có tư tưởng tiến bộ), không quản ngày đêm miệt mài diễn thuyết trên đường phố, tiến hành tuyên truyền và biểu tình thị uy.” “Ban kiểm soát ĐCSTQ của Đảng bộ tỉnh Hồ Bắc đã tổ chức một hội nghị quy mô lớn tại Hán Khẩu, đội ngũ duy trì an ninh trật tự của Liên đoàn Lao động tỉnh tham dự cuộc họp đã hô vang khẩu hiệu “Lật đổ Tưởng Giới Thạch”, gây ra sự phẫn nộ trong đội ngũ học sinh trường quân sự có mặt tại hội trường, dẫn đến ẩu đả. Dưới sự thao túng của Liên Xô, làn sóng phản đối Tưởng Giới Thạch đã được công khai hóa.

Powell tiếp tục phản ánh: Do phong trào bãi công liên tiếp xảy ra đã khiến “Ngành công nghiệp khu vực Vũ Hán buộc phải đóng cửa”, Vũ Hán từ một thành phố lớn có nền kinh tế phát triển phồn thịnh bậc nhất miền trung bộ Trung Quốc, nay biến thành nơi có phong cảnh tiêu điều, kinh tế đình trệ suy thoái.

Trong “Báo cáo chính trị và phương châm công tác của Đảng”, La Diệc Nông nói: “Trong khu vực công nhân, kể từ khi Huyện ủy quyết định tổ chức khủng bố đỏ đến nay, đã đạt được hiệu quả rất lớn, tiêu diệt được không ít công tặc (công nhân làm tay sai cho tư sản) và công nhân có dáng vẻ bệ vệ, kiêu căng ngạo nghễ, hiện tại cần mở rộng phạm vi của loại hình khủng bố đỏ này, phàm là những phần tử phản cách mạng, chẳng hạn như lãnh đạo cánh hữu, thương nhân môi giới, sinh viên học sinh hay thế lực tay sai khác v.v. đều cần tận lực truy quét đả kích. Bởi vì thời điểm này chính là thời kỳ cao trào của cuộc cách mạng, quần chúng cũng có nguyện vọng như vậy. Tổ chức khủng bố đỏ được coi là tấm chắn bảo hộ của cách mạng, là vô cùng cần thiết. Đồng thời, chúng ta nên sử dụng các biện pháp đe dọa để khiến cho nhiều phần tử phản cách mạng không dám ở lại Thượng Hải, điều này được gọi là khủng bố đỏ trên phương diện tinh thần.”

Sau khi thế lực Bắc Dương rút khỏi Thượng Hải, La Diệc Nông và Triệu Sĩ Viêm – chủ trì Ủy ban ĐCSTQ khu vực Thượng Hải đã tuyên truyền đại cương, trong đó nêu rõ: “Thời cơ của cuộc cách mạng Thượng Hải đã đến rồi.” “Cuộc đại bãi công trước đây chỉ là để cử hành thị uy lần thứ nhất, hiện tại thời cơ đã điểm, chúng ta cần cấp tốc tiến hành chuẩn bị cho cuộc đại bạo động vũ trang, nhằm giành lấy vũ trang tự vệ, tiêu diệt phái phản động, báo thù cho người đã hy sinh, vì công nhân đấu tranh giành quyền tự do.” Trong ba cuộc nổi dậy vũ trang của công nhân Thượng Hải, hai cuộc nổi dậy đầu tiên chỉ là biểu tình đình công thị uy mà thôi, còn cuộc nổi dậy lần thứ ba mới là cuộc bạo động vũ trang chiếm lấy chính quyền.

Sách giáo khoa của ĐCSTQ truyền đạt cho các thế hệ hậu sinh rằng: “Khi đoàn biểu tình đi đến đường Bảo Sơn, Tưởng Giới Thạch đã hạ lệnh cho đội quân phản động dùng súng máy bắn phá dữ dội vào quần chúng công nhân tay không tấc sắt.” Thế nhưng sự thật hoàn toàn ngược lại: Tưởng Giới Thạch không hề hạ lệnh như vậy, đoàn biểu tình cũng không phải tất cả đều là quần chúng công nhân, càng không phải ai ai trong tay cũng không có một tấc sắt, đội quân cảnh công nhân thuộc hàng đầu tiên vẫn luôn “duy trì trang bị vũ trang tương xứng”! Đội quân cảnh này thuộc sự kiểm soát của ĐCSTQ, đã được kinh qua quá trình chỉnh đốn sắp xếp lại biên chế, thành lập mười bốn đại đội với tổng số lượng 2.700 thành viên, nắm giữ hơn hai mươi khẩu súng máy, hơn bốn ngàn khẩu súng trường.

Quân đội nổ súng, không phải là vì nhận được mệnh lệnh trấn thủ Nam Kinh của Tưởng Giới Thạch, mà là để phòng thủ tự vệ trong tình huống quân binh cấp bách.

Tham mưu trưởng sư đoàn thứ 2 Chúc Thiệu Chu hồi tưởng lại tình huống lúc bấy giờ: “Phỉ Đảng đã tổ chức đại hội nghị ở đường Thanh Vân, số lượng mặc dù có hơn một vạn người, nhưng súng trường đã bị tước đoạt, vì tổn thất không quá nghiêm trọng, do đó mũi quân phản động theo đường Bảo Sơn tiến thẳng về hướng trung tâm, nhằm hình thành chướng ngại vật để có thể bảo vệ khu vực đại bản doanh, ỷ vào người đông thế lớn, rắp tâm mưu tính phản loạn, trang bị nhiều gậy sắt tiến hành ẩu đả gây rối loạn, phía trung tâm còn hỗn tạp không ít súng lục, vệ binh của chúng ta vì thế mà dẫn đến thương vong, trong tình huống bất đắc dĩ này, đoàn vệ binh mới bắt đầu nổ súng tự vệ, có hơn một trăm người chết và bị thương trên chiến trận, tàn quân tháo chạy tựa như chim thú phân tán. Trải qua quá trình bao vây truy quét, bắt giữ được hơn bảy trăm người, trên thân đều mang dấu ký hiệu biểu tượng của quân Trực Lỗ, tiếp tục điều tra đội ngũ quân phiệt phân tán còn lại, phát hiện vì Phỉ Đảng dùng tiền mua chuộc nên đã mạo xưng làm kẻ gây nhiễu loạn trật tự địa phương nguy hại đến nhân dân Quốc Dân Đảng, tại sao có thể gọi họ là công nhân chân chính?

Chủ trương ‘Thanh trừng Đảng’ của Tưởng Giới Thạch đã mang đến sự ổn định trong trật tự xã hội Trung Quốc, đồng thời đưa Trung Quốc thoát ly khỏi vận mệnh trở thành vật hy sinh của Liên Xô vào thời điểm đó. 

“Nếu không nhờ quá trình bình định dẹp loạn thành công ở Quảng Châu vào ngày 20 tháng 3 năm Dân Quốc thứ 15 và việc thực thi chủ trương thanh trừng Đảng toàn diện ngày 12 tháng 4 năm Dân Quốc thứ 16 đã khiến Trung Quốc giành được thống nhất và độc lập, hoàn thành sứ mệnh dưới sự lãnh đạo của Chính phủ Quốc dân Trung Quốc, thì Trung Hoa Dân Quốc của chúng ta kể từ thời kỳ đó đã trở thành nơi thử nghiệm của Bolshevik và trở thành một quốc gia chư hầu của Liên Xô, không cần phải chờ đợi mười năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Moscow sớm đã kiểm soát 12 triệu km và 450 triệu người, khiến cuộc chiến tranh cách mạng thế giới biến thành không có hồi kết, với tài nguyên và căn cứ hùng hậu không gì sánh được, sẵn sàng thách thức khiêu chiến với Châu Á và sự hòa bình yên ổn của thế giới.” (theo: Liên Bang Xô Viết tại Trung Quốc).

(Còn tiếp…)

Theo Epoch Times
Minh Ngọc biên dịch

Bài viết chỉ trích dẫn tư liệu lịch sử, không nhất thiết thể hiện quan điểm của DKN. TV