Ông Nguyễn Đăng Tiến, cựu Phó giám đốc Bảo hiểm xã hội TP.HCM cho hay, quy định “tháng liền kề” khiến người đóng bảo hiểm thất nghiệp không được hỗ trợ khi mất việc đã “vi phạm nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp”, làm sai lệch nguyên tắc hoạt động của quỹ.

Ông Tiến cho báo VnExpress hay, khái niệm “tháng liền kề” trước khi mất việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp mới được nhận trợ cấp lần đầu xuất hiện tại Thông tư 04 do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành ngày 1/3/2013. Văn bản này hướng dẫn thực hiện Nghị định 127 của Chính phủ về bảo hiểm thất nghiệp.

Từ thời điểm Thông tư 04 ra đời, các hồ sơ đề nghị nhận trợ cấp thất nghiệp nhưng chủ doanh nghiệp nợ, chậm đóng bảo hiểm đều bị Trung tâm dịch vụ việc làm (thuộc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội) từ chối. Ngay cả lao động nghỉ thai sản, ốm đau từ 14 ngày trở lên, nghỉ không hưởng lương cũng không được giải quyết.

Mới đây, Nghị định 61 sửa đổi đã chấp nhận các trường hợp ốm đau, thai sản, nghỉ không hưởng lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Tuy nhiên, người lao động làm việc ở các đơn vị để nợ bảo hiểm vẫn bị từ chối.

“Để nợ bảo hiểm là lỗi của doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhưng cuối cùng người lao động phải gánh. Đó là không công bằng”, ông Tiến nói và cho rằng các quỹ bảo hiểm xã hội, thất nghiệp, y tế phải đảm bảo quyền lợi cho người đóng dù doanh nghiệp để nợ. Bởi thực tế hàng tháng, người lao động đều bị trích lương đóng vào quỹ nhưng do doanh nghiệp chiếm dụng, chế tài không đủ mạnh, cơ quan quản lý chưa làm hết trách nhiệm mới để nợ.

Theo ông Tiến, nguồn kinh phí hỗ trợ cho người lao động có thể được bù đắp từ các khoản đầu tư sinh lợi của các quỹ bảo hiểm xã hội, thất nghiệp, y tế. Sau đó, Bảo hiểm xã hội, ngành lao động vận dụng các quy định pháp luật để đòi số tiền mà doanh nghiệp nợ.

Quỹ bảo hiểm thất nghiệp có hai chức năng chính là chi trả trợ cấp thất nghiệp và tìm việc mới cho người lao động. Nguồn kết dư của quỹ được hình thành dựa trên sự đóng góp của ba bên gồm người lao động, doanh nghiệp và nhà nước. Tuy nhiên, quy định “tháng liền kề” khiến quỹ không chi trả, dừng hỗ trợ người lao động mất việc dù họ đóng góp vào quỹ. Điều này đã “vi phạm nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp”.

Ngoài ra, về lý thuyết nếu người lao động không đảm bảo điều kiện “tháng liền kề”, khoản trợ cấp thất nghiệp không bị mất đi, thời gian tham gia sẽ được cộng dồn vào quá trình đóng tiếp theo. Tuy nhiên một khi họ đã bị mất việc, đi đăng ký để được nhận trợ cấp tức đang rất cần số tiền đó nhưng lại không được chi trả, như vậy bảo hiểm thất nghiệp chưa làm tròn vai.

Chưa kể mức hưởng tối đa hiện nay không quá 12 tháng thì quy định cộng dồn không có ý nghĩa với những người tham gia bảo hiểm thất nghiệp từ năm thứ 13 trở đi. “Điều này cũng khiến lao động cảm thấy không hài lòng, giảm lòng tin vào chính sách”, ông Tiến nói.

Liên quan đến vụ việc này, cũng theo nguồn tin trên, năm 2021, cả nước có 801.000 người nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng hơn 37.000 người bị từ chối giải quyết do vướng quy định “tháng liền kề”.

Vợ chồng chị Nguyễn Thị Cẩm Tiên là một trong số người bị từ chối giải quyết do vướng quy định “tháng liền kề”.

5 năm trước, vợ chồng chị Nguyễn Thị Cẩm Tiên được Công ty TNHH Asia Garment (quận 12) nhận vào làm công nhân, hợp đồng lao động một năm, sau đó là không xác định thời hạn. Hàng tháng, chị đều bị công ty trừ gần 600.000 đồng tiền lương để đóng các khoản bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp. Nữ công nhân nói rằng thu nhập mỗi tháng hơn 6 triệu đồng, thấy trừ nhiều cũng tiếc nhưng nghĩ đến quyền lợi lâu dài nên chấp nhận, cố gắng tăng ca bù vào.

“Thế nhưng khi đụng chuyện mình không được bất cứ quyền lợi gì”, chị Tiên nói. Giữa năm 2020, chị sinh con nhưng chờ mãi không thấy tiền thai sản. Đầu năm sau khi đi làm lại, công ty liên tục chậm lương. Nhiều người bức xúc ngừng việc, khiếu nại cơ quan chức năng mới biết công ty nợ bảo hiểm xã hội hơn 8 tỷ đồng. Trong 4 năm làm việc, vợ chồng chị được công ty đóng đủ các khoản bảo hiểm hơn 1,5 năm. Thất vọng, anh chị và 400 công nhân khác nghỉ việc.

Tương tự, anh Nguyễn Xuân Nghị, 50 tuổi, có 22 năm làm việc tại Công ty cổ phần dịch vụ Bưu chính viễn thông Sài Gòn (SPT), quận 1, nhưng đến khi mất việc không nhận được một đồng nào từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

Cuối năm ngoái, công ty liên tục chậm lương nên anh xin nghỉ việc. Kiểm tra trên ứng dụng VssiD của ngành bảo hiểm, anh Nghị thấy rõ quá trình đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp của mình đến tháng 7/2020, tương đương 13 năm 6 tháng. Theo Luật Việc làm, anh nhận được 12 tháng trợ cấp thất nghiệp, mức tối đa cho người thụ hưởng. Tuy nhiên, khi liên hệ trung tâm dịch vụ việc làm, anh bị từ chối do tháng liền kề trước khi nghỉ việc công ty để nợ bảo hiểm.

Có thể bạn quan tâm: