Mặc dù mỗi năm sản xuất hơn 4 triệu tấn lợn nhưng Việt Nam chỉ xuất khẩu khoảng 20.000 tấn.

Hơn 20 năm phát triển, Việt Nam đã trở thành quốc gia có sức sản xuất thịt lợn rất lớn với năng suất đạt gần 30 triệu con lợn/năm, có những đàn lợn nái có cặp gen tốt nhất.

Thế nhưng, Bộ trưởng Bộ NN  – PTNT Nguyễn Xuân Cường cho hay đầu 2017, ngành chăn nuôi lợn gặp khủng hoảng lớn khi giá thịt xuống mức thấp kỷ lục, nhiều hộ chăn nuôi thua thiệt.

Lý giải nguyên nhân, vị Bộ trưởng cho rằng, ngành chăn nuôi lợn mới làm được khâu đầu tiên là tổ chức sản xuất, còn chế biến và thị trường thì hoàn toàn chưa làm được. So sánh với các ngành khác thì chăn nuôi lợn yếu nhất.

4 triệu tấn lợn ế vì tắc đường sang Trung Quốc

Theo Bộ NN – PTNT, mỗi năm xuất khẩu nông nghiệp của Việt Nam đạt kim ngạch trên 30 tỷ USD, trong đó có 10 ngành hàng chủ lực mang về trên dưới 1 tỷ USD.

Tuy nhiên, sản phẩm của ngành chăn nuôi vẫn chưa góp mặt trong kim ngạch xuất khẩu, dù Việt Nam là quốc gia có tiềm năng chăn nuôi lớn, năng suất đạt 27,5 – 28 triệu con lợn, 300 triệu con gia cầm, 0,5 triệu bò sữa, 2 triệu tấn thịt, bình quân đạt 60 kg thịt/người, 100 quả trứng/người, 10 lít sữa/người, 80 kg cá/người…

Vài năm trở lại đây, dù sản xuất nhiều lợn nhưng việc xuất khẩu thịt lợn chưa có sự đột phá nào. Phần lớn người chăn nuôi xuất khẩu lợn hơi sang Trung Quốc bằng đường tiểu ngạch.

Theo số liệu mới nhất của Hãng nghiên cứu toàn cầu (IBC), trong năm 2016 Việt Nam xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc gần 12 triệu con lợn (33.000 con/ngày). Dự kiến năm 2017, con số này chỉ còn khoảng 2,4 triệu con giảm tới 80% so với năm ngoái và dự báo giảm còn 1,17 triệu con nếu tình hình không khả quan.

Trong khi đó, xuất khẩu chính ngạch quá ít ỏi chỉ đạt 20.000 tấn/năm. Trao đổi vấn đề này, ông Phạm Văn Đông, Cục trưởng Cục Thú y, tiềm năng xuất khẩu thịt lợn vào các thị trường như Philippines, Hàn Quốc, Singapore, Nga, Eu và nhất là Trung Quốc, cực lớn, song thịt lợn của Việt Nam đều không đủ điều kiện.

Do nguồn lợn của Việt Nam chưa đáp ứng được các rào cản về dịch bệnh, về quy trình giết mổ hay về điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm,… do các đối tác đặt ra.

Giải pháp trước mắt để hạn chế tình trạng ế, “cung nhiều hơn cầu” đó là sản xuất lợn phải theo mô hình chuỗi ở các cấp độ khác nhau. Đơn cử, ở cấp độ 1 là quy mô lớn của các doanh nghiệp, có sức sản xuất lớn để xuất khẩu; cấp độ vừa và nhỏ cũng cung ứng cho thị trường nội địa.

Ngoài ra, cần tiếp xúc, trao đổi trực tiếp với các thị trường có nhu cầu lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc về thủ tục hành chính, quy trình cụ thể phía bạn đặt ra, từ đó hướng dẫn các doanh nghiệp làm bài bản và đúng hướng.

Đồng thời, tiến hành xúc tiến thương mại ở cấp Bộ, cấp doanh nghiệp sang các nước để quảng bá sản phẩm thịt lợn của Việt Nam; Xây dựng bộ phận hỗ trợ các doanh nghiệp về kỹ thuật và các thủ tục hành chính như Tổ công tác của Cục Thú y hỗ trợ xuất khẩu thịt gà. Tuy nhiên, nếu còn phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc mà không có những quy hoạch dài hơi thì “thịt lợn” cũng sẽ chẳng khác gì các loại nông sản khác, được giá thì đổ xô nuôi trồng khi nguồn hàng lên cao bạn ngừng nhập, hàng ế nông dân lại điêu đứng và rồi lại chờ đợi những đợt giải cứu tự phát từ người tiêu dùng trong nước.

Tuấn Anh (TH)