Theo GS.TS Nguyễn Văn Lợi, Nguyên Phó viện trưởng Viện Ngôn ngữ học, đề xuất cải tiến nguyên âm của PGS.TS Bùi Hiền không phản ánh đúng bản chất ngữ âm của các nguyên âm, lựa chọn ký hiệu không hệ thống, tùy tiện, vi phạm nguyên tắc sư phạm và gây khó khăn cho người học, nhất là trẻ em.

Theo PGS.TS Bùi Hiền, sau 40 năm nghiên cứu, ông đã hoàn thiện nghiên cứu cải tiến chữ viết “Tiếq Việt” và “trình làng” sớm phần 2 của đề xuất. Cụ thể:

1. Phần thứ nhất, chỉ đề cập cải tiến hệ thống phụ âm theo đúng nguyên tắc “mỗi chữ cái chỉ biểu đạt một âm vị và mỗi âm vị chỉ có một chữ cái biểu đạt”.

2. Phần thứ 2, PGS Hiền hoàn thiện nghiên cứu về nguyên âm của Tiếng Việt, các chữ cái biểu đạt tương ứng và nguyên tắc tổ hợp các nguyên âm trong các âm tiết Tiếng Việt.

PGS.TS Bùi Hiền (Ảnh: Dân Trí).

“Mục đích của tôi cải tiến chữ quốc ngữ để cho con trẻ dễ nhớ, dễ học, không bao giờ bị mắc lỗi nữa. Bạn học thuộc cái bảng chữ đó thì cả đời bạn viết sẽ không bị mắc lỗi chứ bây giờ bạn mắc lỗi nhiều. Vì thế, mục đích khi làm, tôi đã đạt được về mặt khoa học. Còn việc công trình này có chấp nhận hay không lại là chuyện khác”, GS Bùi Hiền cho biết.

Toàn bảng chữ cái (âm vị) Tiếng Việt (thủ đô Hà Nội) gồm 33 đơn vị của PGS Bùi Hiền (Ảnh: Dân Trí).

GS.TS Nguyễn Văn Lợi, Nguyên Phó viện trưởng Viện Ngôn ngữ học cho rằng, những người nghiên cứu ngữ âm học tiếng Việt trong nước và ngoài nước từ trước đến nay, không ai có quan niệm như PGS Bùi Hiền.

Theo GS Lợi, đề xuất cải tiến cách viết nguyên âm của PGS không có cơ sở khoa học: Không phản ánh đúng bản chất ngữ âm của các nguyên âm. Việc lựa chọn ký hiệu không hệ thống, tùy tiện, vi phạm nguyên tắc sư phạm “dễ học, dễ nhớ”, gây khó khăn cho người học, nhất là trẻ em.

GS Lợi cho rằng, các đề xuất của ông Bùi Hiền khó áp dụng thực tiễn do tạo nên sự đứt gãy văn hóa. Gây tốn kém kinh tế do phải học chữ quốc ngữ “mới”, còn thế hệ sau lại phải học chữ quốc ngữ hiện hành để đọc các văn bản, tác phẩm đã có; phải in lại hàng triệu tác phẩm kinh điển về văn học, chính trị, giáo dục…

Bên cạnh đó, chữ cải tiến của PGS Bùi Hiền còn gây khó khăn cho người dân tộc thiểu số học chữ quốc ngữ. Nhiều dân tộc thiểu số đã có chữ viết dựa trên tự dạng La Tinh, có cách ghi phụ âm, nguyên âm gần với cách ghi chữ quốc ngữ.

Ngoài ra, sự gần gũi chữ dân tộc thiểu số và chữ quốc ngữ giúp người dân tộc thiểu số sau khi học chữ của mình, dễ dàng chuyển sang học chữ quốc ngữ. Chữ cải tiến của ông Bùi Hiền tạo nên sự “đứt gãy” từ chữ dân tộc thiểu số sang chữ quốc ngữ.

Khôi Minh