Tại sao Nhật Bản không ngừng đề cao Đài Loan trong chính sách của mình. Sau đây là bài phân tích của tác giả Vương Hách được đăng trên trang Epoch Times.

Vào ngày 12/4, 25 máy bay quân sự Trung Quốc đã bay vào vùng Nhận dạng Phòng không của Đài Loan, lập kỷ lục quấy rối trong ngày lớn nhất kể từ khi Đài Loan báo cáo thường xuyên về cuộc xâm lược của máy bay quân sự Trung Quốc vào năm ngoái. Nhưng kỷ lục này chỉ tồn tại được 2 tháng và nó đã được làm mới vào ngày 15/6, lúc này là 28 lần xuất kích máy bay. Eo biển Đài Loan được mệnh danh là “nơi nguy hiểm” nhất thế giới hiện nay, có thể nhìn thấy ở đây.

Bản chất của vấn đề Đài Loan không phải là vấn đề thống nhất và độc lập, mà là vấn đề về chế độ độc tài và dân chủ. Nếu ĐCSTQ có thể chuyển đổi thành một quá trình chuyển đổi tốt đẹp và hòa bình, vấn đề Đài Loan có thể sẽ được giải quyết từ lâu. Tuy nhiên, ĐCSTQ đã ngang ngược đàn áp và liên tục bức hại người dân (từ Thiên An Môn đến Pháp Luân Công, từ Tân Cương đến Hồng Kông), luôn chuẩn bị sẵn sàng để giành quyền kiểm soát quân sự đối với Đài Loan và thậm chí kêu gọi “giữ đảo bỏ người”, đây không chỉ là tác hại to lớn đối với người dân hai bên eo biển mà còn là mối đe dọa đối với hòa bình và phát triển của thế giới.

Do đó, cộng đồng quốc tế rất chú ý đến xu hướng của Nhật Bản đối với Đài Loan trước nanh vuốt của ĐCSTQ. Nhật Bản đã thể hiện khá nổi bật trong lĩnh vực này. Trước tiên, hãy xem xét một vài ví dụ.

Đầu tiên, hội nghị thượng đỉnh G7 bế mạc vào ngày 13/6, lần đầu tiên đề cập đến tình hình Đài Loan trong một tuyên bố. Trong quá trình đàm phán về tuyên bố, Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga đã đóng vai trò hỗ trợ thuyết phục các nước châu Âu. Theo báo chí đưa tin, trong cuộc hội đàm song phương với Thủ tướng Đức Merkel, người chủ trương hòa hợp với Trung Quốc, thủ tướng Yoshihide Suga đã thuyết phục bà đoàn kết với Nhật Bản và Hoa Kỳ.

Thứ hai, vào ngày 9/6, thủ tướng Yoshihide Suga đã tổ chức một cuộc họp thảo luận giữa lãnh đạo đảng với các lãnh đạo đảng đối lập để thảo luận về các vấn đề liên quan đến việc chuẩn bị Thế vận hội Tokyo và các biện pháp phòng chống đại dịch COVID-19. Trong thời kỳ này, thủ tướng Yoshihide Suga và Chủ tịch đảng đối lập lớn nhất Yukio Edano, khi đề cập đến các chính sách phòng chống dịch bệnh của nước ngoài, họ đều gọi Đài Loan là “đất nước”. Điều này làm dấy lên cuộc thảo luận rộng rãi từ thế giới bên ngoài.

Thứ ba, vào ngày 9/6, Nhật Bản và Úc đã tổ chức cuộc họp 2 + 2 giữa các Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng. Hai bên đã ra tuyên bố chung sau cuộc họp, lo ngại về việc ĐCSTQ vi phạm nhân quyền và lần đầu tiên nhấn mạnh tầm quan trọng của “hòa bình và ổn định ở eo biển Đài Loan, và khuyến khích giải quyết hòa bình các vấn đề xuyên eo biển”, và phản đối việc sử dụng các biện pháp kinh tế để cưỡng chế và gây bất ổn.

Thứ tư, vào ngày 4/6, Nhật Bản tài trợ 1,24 triệu liều vắc xin Oxford (AZ) cho Đài Loan. Bà Thái Anh Văn sau đó nói trong một bài phát biểu rằng bà một lần nữa chứng kiến ​​ý nghĩa thực sự của “tình hữu nghị Đài Loan-Nhật Bản” dựa trên các giá trị được chia sẻ và hỗ trợ lẫn nhau.

Thứ năm, vào ngày 27/5, Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga đã tổ chức Hội nghị thượng đỉnh trực tuyến với bà Ursula von der Leyen, Chủ tịch Ủy ban châu Âu và Charles Michel, Chủ tịch Hội đồng châu Âu, sau đó đưa ra tuyên bố rằng các nhà lãnh đạo của cả hai bên “Nghiêm túc chú ý tới tình hình ở Biển Hoa Đông và Biển Đông”. “Chúng tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của hòa bình và ổn định xuyên eo biển và khuyến khích giải quyết hòa bình các vấn đề xuyên eo biển”. Tờ ‘Yomiuri Shimbun’ của Nhật Bản dẫn nguồn tin từ chính phủ Nhật Bản cho biết, đây là lần đầu tiên các nhà lãnh đạo Nhật Bản và Liên minh châu Âu đề cập đến quan hệ eo biển Đài Loan trong một tuyên bố.

Thứ sáu, vào ngày 13/5, nội dung dự thảo “Sách trắng Quốc phòng” phiên bản năm 2021 của Nhật Bản đã được tiết lộ (báo cáo dự kiến ​​sẽ được trình bày tại cuộc họp Nội các vào tháng 7), do quân đội Trung Quốc đã tăng cường các hoạt động quân sự gần Đài Loan. Sách trắng lần đầu tiên sách trắng tuyên bố rõ ràng rằng “sự ổn định của tình hình ở Đài Loan là rất quan trọng đối với an ninh của Nhật Bản và sự ổn định của cộng đồng quốc tế”. Trước đó, tờ Kyodo News đưa tin, theo nhiều nguồn tin trong chính phủ Nhật Bản, chính phủ đã bắt đầu thảo luận chính thức về luật liên quan đến hoạt động của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản trong trường hợp khẩn cấp ở eo biển Đài Loan.

Thứ bảy, ngày 16/4, tình hình Đài Loan trở thành một trong những chủ đề chính của hội nghị thượng đỉnh Nhật-Mỹ. Đặc biệt, hai bên đề cập đến “sự nhất trí về tầm quan trọng của hòa bình và ổn định ở eo biển Đài Loan”. Đây là lần đầu tiên các nhà lãnh đạo của Hoa Kỳ và Nhật Bản đề cập đến ‘Đài Loan’ trong một tuyên bố chung kể từ năm 1969. Tờ Kyodo News trích dẫn các nguồn liên quan tiết lộ rằng theo đề xuất của Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga, tuyên bố chung đã bổ sung thêm từ ngữ thúc giục một giải pháp hòa bình. Trong cuộc hội đàm, phía Nhật Bản cũng bày tỏ quan điểm rằng “các trường hợp khẩn cấp của Đài Loan có thể tương đương với các sự kiện quan trọng hoặc sự kiện khủng hoảng sinh tồn”.

Thứ tám, vào ngày 16/4, Keiji Furuya, chủ tịch “Hội nghị Nghị viện Nhật- Trung” gồm các nghị sĩ đa đảng Nhật Bản, cho biết trên Twitter rằng lá cờ Nhật Bản đã được kéo lên tại lối vào và lối ra của “Hiệp hội Giao lưu Nhật Bản – Đài Loan” ở Đài Bắc, Nhật Bản đã từng lo lắng về ĐCSTQ và chưa bao giờ kéo quốc kỳ lên.

Thứ chín, vào ngày 10/2, nhóm đối ngoại của Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản đã thành lập một “Nhóm Dự án Thảo luận Chính sách Đài Loan” mới. Theo báo cáo của các phương tiện truyền thông, mục đích của động thái này là nhằm vào Trung Quốc, nước đã gia tăng sức ép quân sự và kinh tế đối với Đài Loan, đồng thời củng cố mối quan hệ của Nhật Bản với Đài Loan, nước chưa thiết lập quan hệ ngoại giao.

Từ những ví dụ trên, có thể thấy vấn đề Đài Loan đã trở thành trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Nhật Bản và đang được triển khai sâu rộng (bài viết này chỉ tập trung vào ngoại giao, trên thực tế đã có cả những bước tiến đáng kể về mặt quân sự). Nhật Bản không chỉ điều chỉnh các chính sách cụ thể của riêng mình đối với Đài Loan, mà còn tạo ra sự đồng thuận ở cấp độ quốc tế. Có thể nói, Hoa Kỳ mang cờ đi trước, còn Nhật Bản đứng sau xâu kim.

Tại sao Nhật Bản đề cao Đài Loan trong chính sách của mình?

Nhật Bản gần đây đã nêu bật chính sách Đài Loan của mình, cốt lõi của chính sách này là kiềm chế tội ác có vũ trang của ĐCSTQ chống lại Đài Loan. Nếu ĐCSTQ phát động một cuộc chiến tranh qua eo biển Đài Loan và Hoa Kỳ buộc phải can thiệp, Nhật Bản chắc chắn sẽ bị can dự do liên minh giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản. Trong trường hợp, nếu Hoa Kỳ không can thiệp do nhiều cân nhắc khác nhau, một khi Đài Loan rơi vào tay ĐCSTQ, Nhật Bản sẽ rơi vào vòng vây chiến lược của ĐCSTQ; bất kể tình huống nào xảy ra, đó sẽ là một tình huống khó khăn cho Nhật Bản. Vì vậy, đảm bảo giải quyết hòa bình vấn đề eo biển Đài Loan là mối quan tâm sống còn đối với Nhật Bản.

Tuy nhiên, nếu tình hình ở eo biển Đài Loan dịu đi, và nếu khả năng xảy ra chiến tranh ở eo biển Đài Loan là khó xảy ra, thì rõ ràng Nhật Bản không cần dùng đến khối óc của mình cho việc này. Tuy nhiên, kể từ năm 2021, mối đe dọa vũ lực của ĐCSTQ liên tục leo thang, tình hình ở eo biển Đài Loan đã tăng lên đáng kể, và nguy cơ chiến tranh ngày càng lớn hơn.

Về vấn đề này, quân đội Hoa Kỳ cảm thấy đặc biệt khẩn cấp. Tư lệnh Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ đã được thay thế trong năm nay. Đảng sắp mãn nhiệm nói rằng ĐCSTQ có thể xâm lược Đài Loan trong vòng sáu năm, trong khi người kế nhiệm nói nghiêm khắc hơn rằng điều đó “sắp xảy ra”. Ngày 28/5, tổng thống Biden đề xuất kế hoạch ngân sách của Bộ Quốc phòng trị giá 715 tỷ USD để đầu tư vào các hoạt động chuẩn bị quân sự, không gian, công nghệ vũ khí hạt nhân,…, trong đó hơn 5 tỷ USD sẽ được sử dụng cho Sáng kiến ​​răn đe Thái Bình Dương. Sáng kiến ​​này nhằm chống lại ĐCSTQ và tập trung vào cạnh tranh Ấn Độ-Thái Bình Dương. Nó nhằm tăng mức độ sẵn sàng chiến tranh của Hoa Kỳ trong khu vực bằng cách tài trợ các hệ thống radar, vệ tinh và tên lửa.

Đánh giá của quân đội Mỹ về tình hình eo biển Đài Loan nên được cho là có thẩm quyền và có tác động rất lớn đến toàn thế giới. Do đó, chính sự nguy hiểm và cấp bách của tình hình ở eo biển Đài Loan đã trở thành động lực chính để Nhật Bản nêu bật chính sách Đài Loan của mình.

Mặt khác, Nhật Bản và Trung Quốc được ngăn cách bởi một dải nước mỏng, và họ có nhận thức thực tế và tinh tế hơn về Trung Quốc. Giới chiến lược Nhật Bản coi Đài Loan là “huyết mạch” của Nhật Bản và tin rằng một khi Đài Loan rơi vào tay ĐCSTQ, tàu ngầm của TQ có thể tránh được chỗ yếu của Biển Đông và lặn xuống biển sâu, kiểm soát lối vào Biển Đông, gây nguy hiểm cho sự an toàn của các luồng hàng hải của Nhật Bản. Do đó, các điều kiện địa chính trị cũng xác định rằng Nhật Bản không thể bỏ qua ĐCSTQ, một chế độ ghét dân chủ, ghét tự do và các giá trị phổ quát, và muốn xâm phạm Đài Loan bằng vũ lực.

Tất nhiên, chính sách Đài Loan của Nhật Bản phụ thuộc vào chính sách Trung Quốc của Nhật Bản, và vấn đề Đài Loan chỉ là trọng tâm trong chính sách Trung Quốc của Nhật Bản. Bây giờ Nhật Bản đã nêu bật chính sách Đài Loan của mình, điều đó cho thấy chính sách Trung Quốc của Nhật Bản đang thay đổi.

ĐCSTQ cho rằng dấu hiệu cho thấy sự thay đổi trong chính sách Trung Quốc của Nhật Bản là cuộc họp 2 + 2 giữa các bộ trưởng ngoại giao và bộ trưởng quốc phòng Nhật Bản và Hoa Kỳ vào ngày 16/3. Tuyên bố sau cuộc hội đàm 2 + 2 lần đầu tiên đề cập “nhấn mạnh tầm quan trọng của hòa bình và ổn định ở eo biển Đài Loan”; Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Nobuo Kishi cũng khẳng định sẽ hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ trong trường hợp khẩn cấp ở Đài Loan. Điều này đã khiến ĐCSTQ tức giận.

Ngày hôm sau (17/3), người phát ngôn của Bộ Ngoại giao ĐCSTQ, Triệu Lập Kiên, đã tổ chức một cuộc họp báo thường kỳ và lên tiếng chửi rủa sự hợp tác giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản. Tuy nhiên, chuyên gia tư vấn Trung Nam Hải Thời Ân Hoằng cho biết trong một cuộc phỏng vấn với trang Duowei News rằng Nhật Bản về cơ bản đã “ngửa bài” với ĐCSTQ; Tân Hoa xã bình luận rằng Nhật Bản “ngày càng đóng vai trò xuyên suốt trong chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ”.

Tất cả điều này chứng minh rằng chính sách Đài Loan nổi bật của Nhật Bản và sự thay đổi trong chính sách Trung Quốc của nước này thực sự có hiệu quả.