Bài phân tích của Tiến sĩ Tạ Điền, giáo sư Trường Kinh doanh Aiken – Đại học Nam Carolina, đăng trên Epoch Times ngày 2/4 có tựa đề: Giấc mộng Tân Sửu của Trung Nam Hải với “Trinh Quán chi trị” của Đường Thái Tông.

Được biết, trước Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) lần thứ 19, một tài liệu lưu hành nội bộ tiết lộ rằng Tập Cận Bình và nhóm tư vấn của ông đã đề xuất ý tưởng thực hiện “Trinh Quán chi trị” ở Trung Quốc. “Trinh Quán chi trị” đề cập đến 26 năm thịnh trị của vị hoàng đế Đường Thái Tông đệ nhị. 

Trong tình thế của ĐCSTQ hiện nay, thật hoang đường khi mơ tưởng mỹ miều về một triều đại thịnh vượng. Trong năm năm qua, các nhà tài phiệt Trung Nam Hải như thể lái tàu qua núi, ngả nghiêng dưới chính sách vừa cương vừa nhu của chính quyền ông Trump. Tuy nhiên, sau khi nước Mỹ trải qua cuộc chiến thể chế chính trị lớn nhất trong lịch sử nhân loại vào năm ngoái, ĐCSTQ đột nhiên như thể được tiêm một liều thuốc trợ tim, cảm thấy vẫn còn cách để sống sót trở lại. Tương ứng, câu chuyện “Trinh Quán chi trị” năm năm trước bỗng trở nên không còn xa vời, tưởng chừng như giấc mơ cũng có thể thành hiện thực. Tuy nhiên, Trung Nam Hải đã vui mừng quá sớm. 

Cốt lõi của “Trinh Quán chi trị” mà chính quyền Trung Quốc vạch ra là nhằm tăng cường tập trung quyền lực vào trung ương, lợi dụng các thủ đoạn công nghệ cao mới nhất để khống chế xã hội nghiêm mật hơn. ĐCSTQ toan tính trấn áp nghiêm khắc hơn bất kỳ lực lượng phản đối dân sự nào có thể phát sinh, thuần hóa người dân trở nên ngoan ngoãn dưới một thể chế tập quyền, và trói một tỷ người vào một “chiến xa” tập quyền để thực hiện cái gọi là “phục hưng dân tộc”. Rõ ràng, ĐCSTQ không hiểu gì về nội hàm của “Trinh Quán chi trị”, và không có khả năng thực hiện được nó, nên gọi nó là “Giấc mộng Tân Sửu” thì hợp hơn.

Ông Bo Ming, Phó cố vấn an ninh quốc gia của chính quyền Trump, gần đây đã đăng một bài báo trên Wall Street Journal, đưa ra một cảnh báo bom tấn đối với các tập đoàn đa quốc gia ở Mỹ. Ông cũng cho người Mỹ xem một bài phát biểu của ông Tập Cận Bình đã bị ĐCSTQ che giấu trong sáu năm. Bài phát biểu được Bo Ming trích dẫn là bài phát biểu bí mật trước các thành viên và ủy viên dự khuyết của Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ khóa mới tại lễ khai giảng của Trường Đảng thuộc Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ vào tháng Giêng năm 2013. Bài phát biểu được giữ bí mật trong 6 năm và chỉ được đăng trên tạp chí “Cầu thị” của ĐCSTQ vào tháng 3/2019. Câu hỏi là tại sao trong lòng ông Tập lại ngưỡng mộ Đường Thái Tông đến vậy? Ông thấy gì trong ý tưởng trị quốc của Đường Thái Tông?

Trinh Quán chi trị là sự cai trị dưới thời trị vì của Hoàng đế Đường Thái Tông Lý Thế Dân vào những năm đầu của triều đại nhà Đường, được đặc trưng bởi sự thanh minh về chính trị, phục hưng kinh tế và thịnh vượng văn hóa. Vì tên của thời kỳ đó được gọi là “Trinh Quan” (627-649), nên nó được gọi là “Trinh Quán chi trị”. “Trinh Quán chi trị” đã đặt nền móng cho thời đại “Khai Nguyên thịnh thế”, một thời kỳ hoàng kim của nhà Đường và đưa xã hội truyền thống Trung Quốc lên đỉnh cao thịnh vượng.

Với lý tưởng: “Thiên địa chi đạo, thuận theo trời đất, Trinh Quan cũng cai trị như vậy”, đó là tư tưởng của “dĩ chính đạo thị dân”, nghĩa là mách bảo cho người dân thấy con đường chính nghĩa. Nhưng những gì mà ĐCSTQ đang tiến hành ở Trung Quốc không phải là con đường chính nghĩa.

Hoàng đế Thái Tông của nhà Đường đã trở thành một vị vua vĩ đại với đức hạnh cao cả và tầm nhìn xa trông rộng của mình. Lòng nhân từ của Đường Thái Tông nằm ở việc đãi nhân đức độ, bất phân giàu nghèo, mọi người đều được đối xử bình đẳng. Ông thiện đãi chúng sinh. Uy đức, phẩm hạnh của ông lan truyền khắp bốn biển, đây là căn nguyên xuất hiện chế độ thịnh trị của triều đại nhà Đường. 

Sau khi Đường Thái Tông lên ngôi, ông đã ân xá cho thiên hạ, miễn tru di tam tộc trong một năm và thả ba nghìn cung nữ. Vào năm Trinh Quan thứ ba, khi Đường Thái Tông kiểm tra những tội phạm bị kết án tử hình, ông thấy rằng có một người tên là Lưu Cung trong danh sách tử hình, chỉ vì trên tay anh ta từ lúc sinh ra đã có vết chàm trông giống ký tự cổ nói rằng sẽ tự xưng đế vương trong tương lai. Đường Thái Tông tin rằng những dòng chữ trên không có ý nghĩa gì, cũng không thể đoán trước được điều gì; Nếu ý trời khiến anh ta trở thành hoàng đế, Đường Thái Tông cũng không thể tránh được. Vì vậy, Đường Thái Tông đã thả người này. 

Việc ĐCSTQ đối xử tàn khốc với những người bất đồng chính kiến, các nhà hoạt động dân chủ, người có đức tin, người Hồng Kông và người Tân Cương, cũng như trừng phạt tàn khốc và truy đuổi một cô gái chỉ vì vẩy mực lên chân dung của ông Tập và một người đã làm rò rỉ tin tức về Tập Minh Trạch, con gái ông Tập. Liệu nó có thể có sợi tơ nào liên hệ được với sự trị vì nhân từ của Đường Thái Tông?

Dưới thời Trinh Quan, Trung Quốc có lãnh thổ rộng lớn chưa từng có. Hoàng đế Thái Tông đã cố gắng hết sức để điều hành, củng cố quyền tài phán chính trị đối với các khu vực phía Tây, tăng cường các mối quan hệ bang giao với châu Á, và đối xử với các dân tộc thiểu số bằng tình yêu thương bình đẳng trong quan hệ dân tộc. Còn dưới sự cai trị của ĐCSTQ, sự đàn áp và tiêu diệt các dân tộc thiểu số ở Tây Tạng, Tân Cương và Nội Mông cũng như sự đàn áp văn hóa của nó đã lên đến đỉnh điểm. Làm sao có thể có một chút dấu vết nào về sự cai trị của Trinh Quan?

Sau khi Hoàng đế Thái Tông của nhà Đường lên ngôi, ông đã gắng sức làm tốt, không truy cứu quá khứ chính trị, đối với người bằng lòng thiện, tuân theo lời khuyên và chỉnh đốn quan lại, điều này đã ổn định tình hình hỗn loạn vào cuối triều đại nhà Tùy. ĐCSTQ ngày nay là nguyên nhân sâu xa của tình trạng hỗn loạn ở Trung Quốc, họ đàn áp những người bất đồng chính kiến ​​và cũng đang giết hại lẫn nhau. Làm sao dám sánh với Trinh Quan?

Đặc trưng của chính thể Trinh Quan là phân quyền hành chính. Hoàng đế Thái Tông đã thông qua ba tỉnh và sáu bộ, khắc phục tình trạng tập trung quyền lực cao độ trong thể chế quân chủ chuyên chế. Sự phân chia quyền lực ở ba tỉnh của triều đại Trinh Quan mang đặc điểm của chính trị hiện đại – nguyên tắc phân quyền. Trung thư tỉnh tể tướng phát bố mệnh lệnh, môn hạ tỉnh thẩm tra mệnh lệnh và ký duyệt, thượng thư tỉnh mới có thể chấp hành mệnh lệnh. Thể chế chuyên chế của ĐCSTQ thậm chí còn không thể sánh được triều đại nhà Đường một nghìn năm trước, một mặt thì tập quyền cao độ, mặt khác, các mệnh lệnh của chính phủ không xuất ra khỏi được Trung Nam Hải. Hiệu suất hành chính thấp, lạm dụng quyền lực hoành hành.

Trinh Quán chi trị dựa trên việc lắng nghe những lời khuyên nhủ can gián, cởi mở và tạo ra bầu không khí chính trị minh bạch. Dưới sự cai trị của ĐCSTQ, ngôn luận bị ngăn chặn, quyền tự do ngôn luận bị tước đoạt và những người bất đồng chính kiến ​​đã bị giết hại. Hoàng đế Thái Tông của nhà Đường rất giỏi trong việc dùng người và tiếp thu những lời can gián, đó là lý do chính cho sự xuất hiện của chế độ Trinh Quan, và nó cũng là một đặc điểm quan trọng của chế độ Trinh Quan. Còn những gì ĐCSTQ thực thi là đào thải những người bất đồng chính kiến, người tốt bị loại bỏ, kẻ xấu nắm quyền hành, tất cả những ai dám “thảo luận về Ban Chấp hành Trung ương” sẽ bị trừng phạt, nhẹ thì thụ án, nặng thì mất mạng.

Trinh Quán chi trị là thời kỳ mà trong lịch sử Trung Quốc về cơ bản không có tham nhũng, đây là thành tựu chính trị đáng khen ngợi nhất của Hoàng đế Thái Tông nhà Đường. Ngay cả bản thân ĐCSTQ cũng phải thừa nhận sự thối nát của nó; Hổ lớn và hổ nhỏ đánh nhau, càng đánh càng nhiều, và cuối cùng nó phải ngừng đả hổ, bởi vì nếu không toàn bộ bộ máy hành chính sẽ bị xóa sổ.

Trong thời kỳ Trinh Quan, vương tử mà phạm pháp thì cũng bị truy tố đồng tội như dân chúng. Đường Thái Tông từng nói: “Pháp luật quốc gia không phải là luật của gia đình hoàng đế, mà là pháp luật cả thiên hạ phải tuân theo, cho nên mọi việc đều phải tuân theo pháp luật làm chuẩn”. Sau khi luật ra đời, Đường Thái Tông đã nêu gương đi đầu trong việc chấp hành pháp luật. Theo ghi chép lịch sử, trong ba năm Trinh Quan, toàn quốc chỉ có 29 người bị kết án tử hình – dường như là không cần dùng đến hình phạt này. Nó gần như đã đạt đến tiêu chuẩn cao nhất của một pháp chế xã hội tập quyền, thật đáng kinh ngạc. Trái lại, dưới sự cai trị của ĐCSTQ, luật pháp về cơ bản là chỉ trên giấy mực. ĐCSTQ sẽ chỉ sử dụng luật pháp để cai trị và đàn áp người dân, và không có khái niệm cơ bản rằng mọi người đều bình đẳng theo luật pháp.

Trong thời Trinh Quan, nhà Đường có nền kinh tế phát triển và độ mở cao, giao thương trên con đường tơ lụa trên bộ và trên biển phát triển mạnh mẽ. Kênh thương mại nổi tiếng thế giới “Con đường tơ lụa” đã kết nối các nền văn minh vật chất của phương Đông và phương Tây. Vào thời nhà Đường, nó đã đạt đến giá trị sử dụng cao nhất. Còn thứ gọi là “Một vành đai một con đường”, mà ĐCSTQ sử dụng để cạnh tranh quyền lực, đã thiếu vốn và sắp chết trong vài năm qua, và bởi vì các quốc gia dọc theo tuyến đường buộc phải vay nợ với những nguy cơ chết người mà ĐCSTQ ẩn tàng, nên đã bị nhiều quốc gia bỏ rơi và chống lại.

Về khía cạnh văn hóa, thời kỳ Trinh Quan, Hoàng đế Thái Tông của nhà Đường đã ban thưởng học bổng, tổ chức cho các học giả đại tu các tác phẩm kinh điển và sách lịch sử khác nhau, đồng thời thiết lập trường Đại học Hoàng gia, Bảo tàng Văn học và Bảo tàng Hoằng Văn ở Trường An. Các danh nho dạy học và sinh viên lên đến hàng vạn. Nhà Đường là trung tâm du học lúc bấy giờ, thu nhận sinh viên từ Silla, Tubo và Nhật Bản.. ĐCSTQ gửi sinh viên ra nước ngoài du học, có quá nhiều là gián điệp và trộm cắp, nên bây giờ cánh cửa gửi sinh viên đến Hoa Kỳ đã đóng lại. Trung Cộng liệu có dám sánh mình với nhà Đường thịnh vượng không?

Cách điều hành đất nước của Đường Thái Tông bao gồm “Thực vi nhân thiên, nông vì chính bổn”, lương thực là vì nhân dân, và nông nghiệp là nền tảng của chính trị”. Trong kế hoạch quản trị, ngân khố có 9 năm dự trữ ngũ cốc, có thể chịu được lũ lụt và hạn hán. Dưới sự cai trị của ĐCSTQ, Trung Quốc không tự cung tự cấp được lương thực và phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Bị ảnh hưởng bởi thiên tai và sâu bệnh, giá lương thực tăng mạnh, và bách tính đều bị hại.

Đại kế trị quốc của Đường Thái Tông tin rằng cần phải cố gắng hết sức để loại bỏ những thói quen xa xỉ không lành mạnh, đồng thời thuyết phục và thúc giục mọi người tập trung vào trồng trọt và dệt vải, khiến các phong tục xã hội trở nên chân phác và thuần hậu. Có như vậy, mọi người mới có tấm lòng nhân từ, chính trực, vĩnh viễn cắt đứt con đường tham lam tiền tài, danh lợi. Đây là chìa khóa để Hoàng đế Thái Tông của nhà Đường chế ngự các phong tục, là then chốt để quản trị thiên hạ. Còn ĐCSTQ dẫn đầu trong việc cai trị đất nước bằng tham nhũng, hối lộ các quan chức có tham nhũng và tăng cường sự thống trị của nó. ĐCSTQ hủy hoại đạo đức, khiến đạo đức của người dân Trung Quốc ngày càng tuột dốc ngàn dặm mỗi ngày, người dân không thể tập trung vào sản xuất bình thường, đều chỉ mong làm giàu trong một đêm, và sự sùng bái vật chất tràn lan. Vào thời kỳ hoàng kim của nhà Đường, sự ủng hộ của người dân dựa trên sự cai trị nhân từ và sự giác ngộ, Đường Thái Tông tin rằng nếu hoàng đế dẫn dắt thế giới bằng phong thái nhân từ và trung thực, người dân sẽ tuân theo và thực hành như một lẽ tất nhiên. Những gì ĐCSTQ đang thực hiện là chuyên chế và lừa dối, và người dân cũng đã học theo như vậy, toàn xã hội lừa dối lẫn nhau, và cả đất nước trở thành vương quốc của những kẻ dối trá.

Nhìn vào xã hội Trung Quốc ngày nay, liệu có dấu vết của sự chung thủy? Ai đó có thể đã nghĩ đến những tòa nhà cao tầng, những bữa tiệc linh đình, phồn hoa giả tạo và sự khoa trương bề ngoài. Trong những năm gần đây, nhiều xu hướng phục cổ nổi lên ở Trung Quốc, chẳng hạn như mặc đồ nhà Đường và bắt chước xu hướng phục trang của thiếu phụ thời Đường. Những thiếu nữ này được mặc những bộ đồ lộng lẫy của nhà Đường, nhưng họ còn thiếu cái gì? Họ thiếu đi nội hàm tâm linh! Phụ nữ thời Đường ung dung, đại độ và duyên dáng, loại khí chất này không thể bắt chước được bởi những phụ nữ mũm mĩm hiện đại không giảm cân khi mặc trang phục nghi lễ với váy hoa và kẹp tóc.

Cách đây nhiều năm, có một cuộc trò chuyện với một giáo sư khoa piano của một trường đại học ở Mỹ. Tôi hỏi ông ấy tại sao không ai sáng tác nhạc cổ điển phương Tây, chẳng hạn như các bản hòa tấu, giao hưởng, sonata, suite, bài thơ giao hưởng, vở opera, v.v., hay các tác phẩm của Chopin, Mozart, Beethoven, Liszt, v.v.? Ông ấy nói có, bây giờ có, nhưng không nhiều. Nhưng bây giờ cho dù ai đó sáng tác nó, cho dù phong cách giống như ở thế kỷ 17 hay 18, thì nó cũng không được gọi là “nhạc cổ điển” nữa. Kết thúc cuộc thảo luận, chúng tôi nhất trí rằng con người hiện đại không còn thứ tình cảm và tâm hồn như vậy, nên không thể viết được, dù có người viết hay bắt chước thì người ta cũng cảm thấy thực sự không phải vậy.

Nói về điều này, các nhà lãnh đạo của ĐCSTQ, chẳng hạn như Tập và những người khác, đang sử dụng chủ nghĩa thực dụng để chọn ra các truyền thống của Trung Quốc theo ý muốn. Họ có thể tin vào phong thủy và mê tín vào long mạch, nhưng họ không dám thừa nhận sự tồn tại của sự sống trí huệ cao hơn ở các không gian khác; Họ khẳng định sẽ theo kịp thời đại, nhưng họ không ngừng thực thi ngược lại, tăng tốc nhanh trong quá trình sụp đổ của ĐCSTQ. 

Ngay cả khi các nhà lãnh đạo cao nhất của ĐCSTQ có những ý tưởng tốt, họ chắc chắn sẽ không đạt được gì nếu không có đức hạnh, tầm nhìn xa trông rộng và lòng dũng cảm của Đường Thái Tông Lý Thế Dân. Một thành viên của Hồng triều có thể nói là có ba không: không có phúc đức, không có phách lực, không có năng nhẫn, muốn bắt chước mô phỏng như vậy, thì thời thế cũng không cho phép.