Tuần trước trong chuyến thăm Nhật, Ngoại trưởng Vương Nghị đã có phát biểu ngang ngược khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông.

Bài phân tích của tác giả Katsuji Nakazawa trên Asia Nikkei cho thấy sự trùng hợp giữa thái độ hung hăng này và sự thay đổi về chính trị tại Mỹ.

Trung Quốc ngang ngược khẳng định chủ quyền trên Biển Đông

Tuần trước, trong chuyến thăm Nhật Bản hai ngày, ông Vương đã nhiều lần đề cập đến căng thẳng tại Quần đảo Senkaku (quần đảo Điếu Ngư), một quần đảo nhỏ không có cư dân do Nhật Bản quản lý và đề cập việc tàu thuyền của Nhật Bản đến quá gần quần đảo này.

“Thực tế là gần đây một số tàu đánh cá Nhật Bản không rõ nguồn gốc đã liên tục đi vào vùng biển nhạy cảm ngoài khơi quần đảo Điếu Ngư, và Trung Quốc phải có những phản ứng cần thiết”, ông Vương nói trong một cuộc họp báo hôm 24/11.

“Quan điểm của Trung Quốc rất rõ ràng. Phía Trung Quốc sẽ tiếp tục kiên quyết bảo vệ chủ quyền của mình, đồng thời đưa ra ba hy vọng”, ông Vương tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc.

“Ba hy vọng” của ông Vương Nghị bao gồm việc hai nước tuân thủ thỏa thuận năm 2014 ngăn chặn căng thẳng leo thang ở Biển Đông; tránh những hành động ở vùng biển nhạy cảm; và khi có vấn đề, hai nước nên trao đổi kịp thời và giải quyết ổn thỏa.

Thoạt nhìn, phát biểu của ông Vương cho thấy thái độ tích cực trong việc giải quyết căng thẳng giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Trên thực tế, Trung Quốc đang làm khó nước Nhật với mục đích đã trù tính từ trước.

Lập luận của Trung Quốc là do các tàu đánh cá Nhật Bản đi vào “vùng biển nhạy cảm”, nên tàu Trung Quốc phải có biện pháp thực thi pháp luật.

Trên thực tế, lập trường của Nhật Bản là quần đảo Điếu Ngư không tồn tại vấn đề tranh chấp lãnh thổ. Dựa trên luật pháp quốc tế, quần đảo này thuộc một phần lãnh thổ cố hữu của Nhật Bản và nằm dưới sự kiểm soát hợp pháp của Tokyo.

Theo logic của Vương Nghị thì việc Trung Quốc liên tục xâm nhập vùng biển Nhật Bản là hợp lý. Chấp nhận logic của ông Vương cũng bằng như phủ định quyền kiểm soát hợp pháp của Nhật tại quần đảo Điếu Ngư và khiến cộng đồng quốc tế cho rằng quần đảo này nằm trong diện tranh chấp lãnh thổ Trung – Nhật.

Ông Vương Nghị (trái) – ông Motegi (phải) tại buổi họp báo (ảnh chụp màn hình video).

Những phát biểu ngang ngược của ông Vương tại buổi họp báo đã làm dấy lên làn sóng phản đối tại Nhật.

Ông Toshimitsu Motegi, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nhật Bản cũng xuất hiện trong cuộc họp báo này. Và ông ngay lập tức bị giới chính trị gia Nhật Bản chỉ trích vì đã duy trì thái độ mềm mỏng và không có phản ứng đáp trả lại bình luận của ông Vương tại buổi họp báo. Thay vào đó, ông Motegi lịch sự để ông Vương hoàn thành bài phát biểu của mình.

Những bình luận này của ông Vương đều có chủ đích, có chiến lược. Ông rất hiểu mình đang nói gì và đoạn video cho thấy thái độ mềm mỏng của ông Motegi có thể khiến thế giới lầm tưởng rằng Nhật Bản đang đồng ý với quan điểm của Ngoại trưởng Trung Quốc.

Thái độ của Trung Quốc với lãnh hải Nhật Bản thay đổi theo chuyển biến chính trị tại Mỹ

Lần đầu tiên, tàu chính phủ Trung Quốc xâm nhập vào lãnh hải quần đảo Điếu Ngư của Nhật là vào ngày 8/12/2008. Khi này, hai tàu tuần tra của Trung Quốc tiến vào khu vực và đậu ở đó 10 giờ. Những nhân viên trên tàu cũng chụp ảnh để làm bằng chứng cho tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc. Rõ ràng là những tàu tuần tra này đã thực thi theo mệnh lệnh được giao.

Chỉ sáu tháng trước đó, tháng 6/2008, Nhật Bản và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận song phương về việc phát triển chung các mỏ khí đốt ở Biển Đông, làm dấy lên hy vọng hòa giải căng thẳng giữa hai nước.

Nhìn lại quá khứ, một nhà nghiên cứu cấp cao về đối ngoại và an ninh tại một cơ quan tư vấn của Trung Quốc đã suy đoán, nhờ có thỏa thuận này mà “các cuộc biểu tình dữ dội chống Nhật năm 2012 do Nhật quốc hữu hóa quần đảo Điếu Ngư và sự sụp đổ mối quan hệ song phương (Trung-Nhật) có thể tránh khỏi”.

Tuy nhiên tới tháng cuối năm 2008, Trung Quốc lại thay đổi chính sách đối ngoại và an ninh với Nhật Bản, hướng tới mục tiêu dùng vũ lực để thay đổi hiện trạng tại Biển Đông. Một ví dụ rõ ràng là sự xâm lấn của hai tàu tuần tra vào lãnh hải Nhật Bản.

Yếu tố thúc đẩy hành động gây hấn này của Trung Quốc chính là diễn biến chính trị tại Mỹ. Tháng 11/2008, ứng cử viên đảng Dân chủ Barack Obama đắc cử tổng thống và chuẩn bị cho lễ nhậm chức vào tháng Một.

Cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama và cựu Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden (ảnh: Reuters).

Khi chính quyền Obama sắp lên nắm quyền, Bắc Kinh đặc biệt coi trọng quan hệ Mỹ-Trung và tìm cách vận động hành lang đội ngũ của Obama – trong đó bao gồm cả Joe Biden, khi đó đảm nhận chức Phó tổng thống.

Và bây giờ tình huống tương tự đang lặp lại, Trung Quốc đang thực hiện các động thái chiến lược khi cho rằng ứng viên Joe Biden nắm chắc phần thắng, bất chấp các tranh chấp pháp lý chưa có hồi kết. Nhưng động thái chiến lược này của Bắc Kinh được tung ra trong bối cảnh tình trạng bất ổn chính trị ở Mỹ ngày nay vô cùng sâu sắc.

Và trong hoàn cảnh này, ông Vương Nghị đã nêu ra bình luận về chủ quyền ở biển Đông. Điều này hẳn không ngẫu nhiên?

Trong chuyến thăm tới Hàn Quốc sau đó, ông Vương đã đạt được một thỏa thuận khiến nhiều người ngạc nhiên. Trong đó, Trung-Hàn đã đồng ý khởi động cuộc họp “hai cộng hai” (two-plus-two meeting) của các bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng hai nước.

Cuộc họp “hai cộng hai” là khuôn khổ đối thoại thẳng thắn giữa hai quốc gia có quan hệ tin cậy trên mặt trận an ninh. Hàn Quốc, một đồng minh của Mỹ, đã thực hiện một bước đi táo bạo khi đồng ý tổ chức cuộc họp như vậy với Trung Quốc.

Các nhà bình luận Hàn Quốc thừa nhận rằng đây là một chiến thắng của Trung Quốc, khi tận dụng được “khoảng trống” trong quá trình chuyển giao chính trị được Trung Quốc cho là đã ngã ngũ tại Mỹ.

Mối quan hệ giữa Nhật-Trung vẫn rất căng thẳng

Gần đây, chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) Tập Cận Bình thường đề cập đến việc trên thế giới đang diễn ra “những thay đổi sâu sắc chưa từng thấy trong một thế kỷ qua”.

Mục tiêu của ông Tập khi cử ông Vương đến Nhật Bản và Hàn Quốc là nhằm mở rộng phạm vi ảnh hưởng của Bắc Kinh cả về chính trị và kinh tế trước khi chính quyền Biden nhậm chức (nếu có thể). Sau đó ông Tập sẽ tới thăm Nhật và Hàn khi dịch viêm phổi Vũ Hán đã được kiểm soát.

Tuy nhiên, mối quan hệ Nhật-Trung vẫn đang rất căng thẳng.

Trong chuyến công du tới Nhật, ông Vương cũng đến thăm văn phòng thủ tướng để gặp ông Yoshihide Suga, thủ tướng mới của Nhật Bản. Nhưng trái với sự xã giao lịch sự của ông Motegi, ông Suga chỉ bày tỏ thái độ vô cảm với chuyến viếng thăm của ông Vương.

Nét mặt thủ tưởng Suga dường như vô cảm trong khi gặp mặt ông Vương (ảnh chụp màn hình video).

Mối quan hệ của Nhật Bản đối với Trung Quốc đã xấu đi do đại dịch viêm phổi Vũ Hán và việc Bắc Kinh “vung dao” ở Hồng Kông, cũng như các vấn đề song phương bao gồm các cuộc xâm lấn liên tiếp của Trung Quốc vào quần đảo Điếu Ngư.

Năm 2020 Nhật Bản và Trung Quốc đánh dấu 50 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Đây là một năm phù hợp để lãnh đạo hai nước viếng thăm lẫn nhau.

Nhưng đại dịch vẫn tiếp diễn. Trung Quốc cũng bước vào một mùa chính trị đầy căng thẳng trước thềm Đại hội Đảng Cộng sản toàn quốc vào mùa thu 2022. Vì vậy chuyến viếng thăm của Tập Cận Bình tới Nhật (được lên kế hoạch vào tháng 4 năm nay) sẽ tiếp tục bị trì hoãn.