Ấn Độ và Trung Quốc từng bùng nổ chiến tranh năm 1962 tại cùng khu vực biên giới xảy ra cuộc đụng độ hôm 15/6 trên dãy Himalaya. Nhưng quân đội đối đầu trên dãy Himalaya ngày nay khác xa so với trận chiến cách đây 58 năm.

Thường người ta cho rằng Trung Quốc có ưu thế quân sự hơn đáng kể so với Ấn Độ. Tuy nhiên, CNN dẫn các nghiên cứu gần đây từ Trung tâm Belfer tại Trường Chính phủ Harvard Kennedy ở BostonTrung tâm An ninh Mỹ mới (CNAS) ở Washington (Mỹ) cho thấy, Ấn Độ trên thực tế có ưu thế ở vùng núi cao, nơi đang diễn ra cuộc đối đầu.

Sức mạnh không quân

Theo một nghiên cứu được công bố vào tháng 3 của Trung tâm Belfer, Ấn Độ có khoảng 270 chiến đấu cơ và 68 máy bay tấn công mặt đất có thể chiến đấu với Trung Quốc.

New Delhi cũng duy trì một chuỗi các căn cứ không quân nhỏ gần biên giới Trung Quốc để có thể sẵn sàng đỗ và cất cánh.

Ngược lại, nghiên cứu cho thấy Trung Quốc có 157 máy bay chiến đấu và một phi đội nhỏ máy bay không người lái tấn công mặt đất trong khu vực. 

Lực lượng Không quân Trung Quốc (PLAAF) sử dụng 8 căn cứ trong khu vực, nhưng hầu hết trong số đó là các sân bay dân sự có vấn đề về độ cao.

Nghiên cứu cho biết: “Độ cao của các căn cứ không quân Trung Quốc ở Tây Tạng và Tân Cương, cùng với điều kiện thời tiết và địa lý khó khăn trong khu vực là vấn đề. Điều đó có nghĩa là các máy bay chiến đấu của Trung Quốc chỉ có thể mang được một nửa trọng tải thiết kế và nhiên liệu”.

Tiếp nhiên liệu trên không có thể giúp Trung Quốc khắc phục tình trạng trên, nhưng PLAAF không có đủ máy bay tiếp dầu trên không.

Nghiên cứu của Belfer cũng cho biết Không quân Ấn Độ (IAF), với các máy bay phản lực Mirage 2000 và Su-30, là máy bay đa năng, hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết. Trong khi Trung Quốc sở hữu các máy bay chiến đấu J-10, J-11 và Su-27, trong đó chỉ có J-10 mới có những khả năng đó.

Theo một báo cáo tháng 10/2019 từ CNAS, Ấn Độ cũng đã xây dựng các căn cứ tại khu vực biên giới giáp ranh Trung Quốc.

“Để đối phó với một cuộc tấn công tiềm tàng của Quân đội Trung Quốc (PLA), Ấn Độ đã chú trọng nhiều hơn vào việc củng cố cơ sở hạ tầng; khả năng phục hồi cơ sở; hệ thống chỉ huy, kiểm soát và thông tin liên lạc dự phòng; và cải thiện khả năng phòng không”, báo cáo của CNAS cho hay.

Nghiên cứu của Belfer chỉ ra rằng, Trung Quốc đối mặt với các mối đe dọa từ Hoa Kỳ ở sườn phía đông và phía nam, nên đã tập trung củng cố các căn cứ ở đó mà bỏ qua dãy Himalaya, khiến ít nhất 4 căn cứ không quân của PLA đều dễ bị tấn công.

“Việc Ấn Độ phá hủy hoặc làm mất khả năng tạm thời một số trong bốn căn cứ không quân nói trên sẽ càng làm trầm trọng thêm các điểm yếu của PLAAF”, báo cáo của Belfer cho hay.

Báo cáo của Belfer cho thấy không quân Ấn Độ còn có lợi thế khác là kinh nghiệm chiến trường: “Các cuộc xung đột gần đây với Pakistan cung cấp cho IAF kinh nghiệm thực chiến ở mức độ nhất định”.

Trong bối cảnh thiếu kinh nghiệm thực chiến, các phi công Trung Quốc có thể gặp khó khăn trong việc ứng phó trong một cuộc không chiến cơ động.

“Các cuộc tập trận gần đây của PLAAF với kịch bản không định sẵn, cho thấy các phi công Trung Quốc phụ thuộc quá mức vào sự chỉ đạo chiến thuật  từ mặt đất. Điều này cho thấy trình độ chiến đấu của PLAAF có thể yếu hơn đáng kể so với đánh giá thông thường”, báo cáo Belfer ghi.

Lực lượng mặt đất

Trong khi Ấn Độ có kinh nghiệm trên không, báo cáo của CNAS cho biết nước này cũng rất có năng lực trên chiến trường mặt đất, khi đã chiến đấu ở những nơi như Kashmir và giao tranh dọc biên giới với Pakistan:

 “Ấn Độ cho đến nay là bên có nhiều kinh nghiệm và thiện chiến hơn, đã từng đối mặt với một loạt các cuộc xung đột có cường độ thấp và hạn chế trong quá khứ”.

“Trong khi PLA đã không trải qua các cuộc chiến đáng kể kể từ năm 1979 với Việt Nam” – cuộc chiến biên giới kéo dài một tháng do chính quyền Trung Quốc phát động, nhìn chung đã thất bại. Vì quân đội Việt Nam có quân số ít hơn nhưng lại có kinh nghiệm thực chiến nhiều hơn rất nhiều.

Về số lượng binh lính mặt đất, Belfer ước tính có khoảng 225.000 quân Ấn Độ trong khu vực. Trong khi phía Trung Quốc có từ 200.000 đến 230.000 quân, trong đó tính cả các đơn vị ngăn chặn các cuộc nổi dậy ở Tân Cương hoặc Tây Tạng, một phần để đối phó với bất kỳ mâu thuẫn phát sinh nào dọc biên giới giữa Trung Quốc với Nga.

Việc điều quân Trung Quốc đến mặt trận trong trường hợp xảy ra các cuộc chiến quy mô lớn gặp vấn đề về hậu cần. Vì các cuộc không kích của Ấn Độ có thể nhắm vào các tuyến đường sắt cao tốc trên cao nguyên Tây Tạng hoặc các điểm nghẽn ở khu vực đồi núi gần biên giới.

“Ngược lại, các lực lượng Ấn Độ phần lớn đã vào vị trí”, báo cáo viết.

Tuy nhiên, báo cáo của CNAS cho biết thêm rằng, quân đội Ấn Độ cũng có thể dễ bị tấn công bởi các tên lửa và pháo binh của Trung Quốc từ Tây Tạng vào các điểm chốt trên núi.

Nhưng câu hỏi đặt ra là liệu trong trường hợp xảy ra xung đột quy mô lớn, Trung Quốc có đủ tên lửa để hạ gục tất cả các mục tiêu mà họ cần phải tấn công ở Ấn Độ hay không.

Nghiên cứu của Belfer trích dẫn ước tính của một cựu sĩ quan Không quân Ấn Độ, dự đoán Trung Quốc sẽ cần 220 tên lửa đạn đạo để đánh sập một sân bay của Ấn Độ trong một ngày. Nhưng chỉ với 1.000 đến 1.200 tên lửa có sẵn cho nhiệm vụ này, Trung Quốc sẽ nhanh chóng cạn kiệt tên lửa để có thể đánh sập các sân bay của Ấn Độ.

Một lĩnh vực Trung Quốc có thể đang có lợi thế là công nghệ và vũ khí mới. Với ngân sách quốc phòng lớn hơn và quân đội hiện đại hóa nhanh chóng, Bắc Kinh có thể thu hẹp các khoảng trống về lực lượng.

Vũ khí hạt nhân

Thực tế là cả Trung Quốc và Ấn Độ đều đã trở thành cường quốc hạt nhân nên không thể bỏ qua yếu tố này khi đánh giá cán cân quyền lực.

Số liệu do Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIRPI) công bố trong tháng 06/2020 ước tính, Trung Quốc có khoảng 320 đầu đạn hạt nhân, còn của Ấn Độ là 150 và đều đang tiếp tục gia tăng. Tuy nhiên, cả hai cũng đều áp dụng quan điểm “không sử dụng trước”, có nghĩa là cam kết chỉ sử dụng vũ khí hạt nhân để trả đũa một cuộc tấn công hạt nhân.

Đồng minh

Trong khi đối đầu với Trung Quốc trên dãy Himalaya, Ấn Độ đang phát triển các mối quan hệ quốc phòng với các quốc gia có chung sự cảnh giác với Bắc Kinh.

New Delhi đã phát triển gần gũi hơn với quân đội Hoa Kỳ trong những năm gần đây. Washington gọi Ấn Độ là “đối tác quốc phòng trọng yếu”, trong khi tăng cường đào tạo song phương và đa phương.

Trong trường hợp xảy ra xung đột quy mô lớn trên dãy Himalaya, lực lượng tình báo và giám sát của Mỹ có thể giúp Ấn Độ có được thông tin rõ hơn trên chiến trường.

Báo cáo của Belfer đưa ra một ví dụ: “Sự gia tăng quân số của Trung Quốc từ lục địa lên biên giới sẽ thu hút sự chú ý từ Hoa Kỳ. Điều này sẽ được cảnh báo tới Ấn Độ và cho phép nước này huy động lực lượng bổ sung đối ứng của mình”.

Ấn Độ cũng thường xuyên tham gia các cuộc tập trận chung với các nước như Mỹ, Nhật Bản, Pháp và Australia. 

Báo cáo của CNAS cho biết: “Các cuộc tập trận thường xuyên với các nước phương Tây tham gia đã thể hiện sự đánh giá cao khả năng sáng tạo chiến thuật và mức độ thích ứng của đối tác Ấn Độ.

“Mặt khác, các nỗ lực huấn luyện chung của Trung Quốc cho đến nay vẫn còn tương đối thô sơ, ngoại trừ các cuộc tập trận đáng chú ý với Pakistan và Nga.”

Gần đây, chính phủ Mỹ của tổng thống Donald Trump đang có kế hoạch thiết lập một liên minh quân sự kiểu NATO cho khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương để đối phó Trung Quốc. Trong đó có Ấn Độ, Úc, Nhật Bản cùng với Mỹ là các thành viên chủ chốt, dự kiến sẽ mời thêm Hàn Quốc, Việt Nam và New Zealand.

Nếu cam kết của “NATO mới” này có điểm tương đồng với NATO EU, thì thỏa thuận cốt yếu của nó là: nếu một quốc gia thành viên bị tấn công vũ trang, tất cả các nước thành viên còn lại sẽ có trách nhiệm giúp đỡ thành viên bị tấn công, bao gồm cả việc sử dụng vũ trang.

Đồng minh đáng nói nhất của Trung Quốc trong trường hợp này là Pakistan. Trong khi các đồng minh khác như Nga, Iran, Triều Tiên thì hoặc là lỏng lẻo, hoặc không đủ sức vì đang bị Mỹ cấm vận chặt chẽ.

Cuối tháng 7 vừa qua, Nga thậm chí đã quyết định hoãn bàn giao hệ thống tên lửa S-400 cho Trung Quốc mà không nói rõ khi nào sẽ thực hiện. Phía Nga cũng thường xuyên chỉ trích Trung Quốc đánh cắp công nghệ vũ khí của mình. Trong khi Ấn Độ luôn là khách hàng chính của Nga về vũ khí.