Tác giả Jerome Keating sống ở Đài Loan đã có bài bình luận trên trang Thời báo Đài Bắc về việc Đài Loan nên lên phương án tấn công sâu vào trong Trung Quốc Đại lục, chứ không chỉ là phòng thủ thụ động, và Hoa Kỳ phải đóng góp tích cực vào việc ủng hộ Đài Loan để sửa chữa sai lầm trong quá khứ của mình.

Sau đây là nguyên văn bài viết của tác giả:

Trong vài tháng qua, Bắc Kinh đã tiếp tục nâng cao luận điệu bá quyền của mình và gia tăng các cuộc xâm nhập vào vùng nhận dạng phòng không của Đài Loan. Đến lượt mình, Mỹ cuối cùng cũng đã nhận ra chiến lược mơ hồ của họ ngày càng mong manh như thế nào. Mọi hy vọng của Hoa Kỳ rằng Bắc Kinh sẽ là một bên liên quan có trách nhiệm và người chơi kinh tế đã giảm bớt, nếu không muốn nói là họ đã từ bỏ hy vọng này.

Tất nhiên, Đài Loan vẫn là một quốc gia dân chủ, độc lập mà Trung Quốc thèm muốn. Do đó, Mỹ cần phải xem xét lại không chỉ số lượng mà còn cả loại vũ khí mà họ bán cho Đài Loan.  Do đó, nếu Mỹ thực sự nghiêm túc trong việc cung cấp cho Đài Loan vũ khí để duy trì hòa bình ở eo biển Đài Loan, thì họ không thể đưa ra phương án phòng thủ đơn giản là “đợi đến giây phút cuối cùng khi Trung Quốc tấn công” được.

Đài Loan cần vũ khí để tấn công và thậm chí tấn công sâu vào Trung Quốc. Điều này có thể xuất hiện như một khái niệm táo bạo đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, thời điểm đã đến.

Để hiểu được điều đó, ta phải nhìn lại toàn bộ để thấy viễn cảnh Đài Loan-Trung Quốc-Châu Á luôn thay đổi kể từ khi Thế chiến thứ hai kết thúc.

Qua đó, có thể thấy rằng vấn đề Đài Loan-Trung Quốc hiện nay đã được tạo ra bởi Mỹ với tư cách là bên chiến thắng chính trong cuộc chiến tranh chống lại Nhật Bản. Rõ ràng là Hoa Kỳ 75 năm qua phải chịu trách nhiệm cho con đường dẫn đến vị trí của Đài Loan bây giờ.

Chiến lược gia cổ đại của Trung Quốc, Tôn Tử đã từng nói rằng: “Bạn không giải quyết một vấn đề bằng cách phớt lờ hoặc chạy trốn khỏi nó.”

Vậy điều gì đã xảy ra với Đài Loan vào cuối cuộc chiến tranh và trong 75 năm sau đó?

Bắt đầu với Hiệp ước San Francisco, được hình thành vào tháng 9/1951 và có hiệu lực vào ngày 28/4/1952: Hiệp ước quy định rằng Nhật Bản phải từ bỏ Đài Loan, nhưng nó không nêu rõ Nhật phải trả lại Đài Loan cho ai. Không thể có lý do gì cho thấy Mỹ đã phải đối mặt với một quyết định vội vàng. Đó là quyết định sau gần bảy năm chiến tranh kết thúc và rất lâu sau khi lực lượng Đồng minh ngừng cố gắng giữ Tưởng Giới Thạch tham gia chống lại Nhật Bản. Nhưng Mỹ vẫn không thể đưa ra một câu trả lời rõ ràng.

Lúc đó, rõ ràng là Mỹ đã có áp lực. Chiến tranh Lạnh với Liên Xô đã bắt đầu; Chiến tranh Triều Tiên đang diễn ra; và Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đuổi Tưởng và Quốc dân Đảng của ông ta ra khỏi đất nước và lưu vong.

Tuy nhiên, hiệp ước San Francisco không trao Đài Loan cho Tưởng, Quốc Dân Đảng, Trung Hoa Dân Quốc (ROC) hay CHND Trung Hoa.

Đây là nơi bắt đầu câu chuyện về vị trí “chưa quyết định” của Washington đối với Đài Loan. Đài Loan nhanh chóng trở thành con tốt trong cuộc đấu tranh thời hậu chiến giữa ĐCSTQ và phương Tây.

Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Harry Truman vào tháng 1 năm 1950 đã sẵn sàng ủng hộ quân Tưởng, chỉ để xoay chuyển tình thế vào tháng 6 cùng năm vì Mao Trạch Đông đã cử quân đội Trung Quốc đến viện trợ cho Triều Tiên.

Cựu tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower sau đó đã đe dọa phi hạt nhân hóa trong khu vực, nhưng lời đe dọa của ông không quá nhiều để bảo vệ Đài Loan như một nước chống lại ĐCSTQ.

Bị đe dọa là sẽ có một “hiệu ứng domino”, một lập luận mà Hoa Kỳ sau này sử dụng để biện minh cho sự can thiệp của mình vào Việt Nam. Cựu tổng thống Mỹ John F. Kennedy trước khi đắc cử đã nói rằng các đảo Kim Môn và Matsu không phải là một phần lãnh thổ mà Nhật Bản đã đầu hàng trong hiệp ước San Francisco, nên nó không có giá trị bảo vệ Đài Loan.

Sau đó, cựu tổng thống Mỹ Richard Nixon và cựu ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger đã thay đổi quan điểm, và sẵn sàng hy sinh Trung Hoa Dân Quốc (hay Đài Loan) và tư cách thành viên trong Liên hợp quốc để đạt được một số “đòn bẩy của Trung Quốc” chống lại Liên Xô.

Cựu tổng thống Hoa Kỳ Jimmy Carter đã chuyển đại sứ quán Hoa Kỳ tại Trung Quốc từ Đài Bắc đến Bắc Kinh một cách không hề do dự, nhưng Quốc hội Hoa Kỳ cũng can thiệp để giúp đỡ Đài Loan, cuối cùng gọi quốc gia này là Đài Loan, mà không phải là Trung Hoa Dân Quốc.

Mỹ đã thay thế đại sứ quán Mỹ bằng Viện Mỹ ở Đài Loan, nhưng vẫn không tham gia vào những diễn biến dân chủ ở quốc gia này.

“Sáu bảo đảm” của cựu tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan đã giúp đỡ một phần nào đó, nhưng khi Đài Loan vào cuối những năm 1980 cố gắng phát triển khả năng phòng thủ hạt nhân, Hoa Kỳ đã từ chối nó, thực tế là: “Chúng tôi muốn bạn tự vệ nhưng bị trói một tay phía sau lưng của bạn”.

Trớ trêu thay, khi Israel đang đối mặt với một kẻ thù lớn hơn, Mỹ đã không thực hiện một nỗ lực mạnh mẽ tương tự để chấm dứt việc phổ biến vũ khí hạt nhân ở đó.

Đài Loan dường như được coi là quốc gia duy nhất phải đề phòng vi phạm “hiện trạng” giả tạo của khu vực. Vị thế của Đài Loan tiếp tục bật lên trở lại khi mỗi tổng thống Mỹ phản ứng khác nhau trước những thay đổi của thời thế. Tuy nhiên, nếu từng lo sợ về việc Đài Loan sẽ trở nên bất hảo, thì ít nhất ai đó trong chính phủ Mỹ phải nhận thấy rằng sau khi Tưởng chết năm 1975, không một nhà lãnh đạo Đài Loan nào có ý định tấn công Trung Quốc.

Tuy nhiên, Mỹ đã chấp thuận chính sách “một Trung Quốc” ngớ ngẩn, điều đáng tiếc là chỉ một số ít ở Washington hiểu được rằng có chính sách “một Trung Quốc” sẽ không mâu thuẫn với việc có chính sách “một Đài Loan”, không mâu thuẫn với việc có chính sách “một nước Pháp” hoặc “một nước Đức”. Chính sách “một Trung Quốc” chỉ thừa nhận rằng yêu sách của Bắc Kinh đối với Đài Loan là nhận thức của riêng họ, nhưng không nước nào buộc phải công nhận điều đó.

Việc gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho bất kỳ quốc gia nào cũng sẽ kích hoạt khả năng trừng phạt của thế giới. Do đó, Trung Quốc phải nhận thức được rằng bất kỳ cuộc tấn công nào vào Đài Loan đều sẽ là Chiến thắng kiểu Pyrrosh (đây là một thành ngữ để chỉ một thắng lợi gây ra những tổn thất khủng khiếp ở phe chiến thắng mà nó tương đương với thất bại).

Đầu tiên, ngay cả khi ĐCSTQ tiếp quản Đài Loan, nó sẽ có một vấn đề to lớn là cố gắng kiểm soát dân số thù địch của quốc gia này. Đài Loan tồn tại được là dựa trên nền dân chủ của mình, người dân đã nuôi dưỡng ác cảm với ĐCSTQ ở bên kia eo biển.

Thứ hai, với khả năng Đài Loan tấn công vào sâu bên trong Trung Quốc, Bắc Kinh sẽ bắt đầu phải trả giá cho cuộc tấn công của mình ngay cả trước khi các đồng minh của Đài Loan và những nước có quyền độc lập với quốc gia này có thể viện trợ. Mỹ có nhiều hệ thống vũ khí đóng trên khắp thế giới và nằm ở xa ngoài biên giới của họ. 

Cuối cùng, việc Đài Loan có vũ khí có khả năng gây sát thương vào nội địa Trung Quốc sẽ củng cố vị thế của nước này như một “Gibraltar dân chủ” ở vùng biển châu Á và có thể biến nó thành cửa ngõ phía đông của Biển Đông. (Gibraltar vùng lãnh thổ hải ngoại thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland).

Đài Loan từ lâu đã nằm dưới ảnh hưởng của các cường quốc thuộc địa, từ Hà Lan đến Tây Ban Nha, Nhà Minh, Nhà Thanh và Nhật Bản, những người đầu tiên kiểm soát toàn bộ Đài Loan. Nên quốc gia này không cần và cũng không muốn thêm CHND Trung Hoa vào danh sách đó.

Tuy nhiên, Tổng Bí thư ĐCSTQ Tập Cận Bình không buông tha. Sự khác biệt về ý thức hệ là một phần của quá khứ, các vấn đề mới là kiểm soát lãnh thổ và thống trị thương mại, cũng như cuộc đấu tranh giành quyền bá chủ giữa các quốc gia độc đảng và các quốc gia theo chế độ dân chủ.

Đài Loan đã tự mình đạt được nền dân chủ với ít sự hỗ trợ của Mỹ. Do đó, người ta cảm thấy mệt mỏi khi nghe các chuyên gia nhảy dù Hoa Kỳ nói: “Chúng tôi, Hoa Kỳ, sẽ giúp đỡ, nhưng trước tiên các bạn phải có khả năng tự vệ”. Mỹ vẫn là nguyên nhân gây ra vấn đề chính của Đài Loan. Đài Loan trong nhiều thập kỷ đã tự bảo vệ mình với một tay bị trói sau lưng, nhưng vẫn đạt được dân chủ.

Trung Quốc đã nhận ra rằng Đài Loan không phải để chiếm đoạt và quốc gia này có vũ khí để ngăn chặn điều đó. Trung Quốc cũng không cần phải chiếm hữu Đài Loan để thu lợi trong thế giới ngày nay. 

Tuy nhiên, đối với việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan, trước tiên và cuối cùng, Washington nên công nhận Đài Loan là quốc gia dân chủ. Sau đó, lại phải quay trở lại để nhắc lại lời của Tôn Tử: “Cách tốt nhất để Mỹ tránh chiến tranh ở châu Á là vũ trang cho Đài Loan, và vũ trang tốt cho họ”.