Là một nền kinh tế được xem là có tài nguyên phong phú, Việt nam cần đột phá để thoát khỏi khủng hoảng, phát triển kinh tế bền vững. Một trong những điểm mấu chốt là cần mạnh dạn nhìn vào những thiếu sót để bứt phá hệ thống tài chính.

Năm 2014 đang khép lại, nền kinh tế với những kết quả có vẻ là tốt đẹp như những con số báo cáo thống kê đã đưa ra là tăng trưởng GDP 5,93% so với kế hoạch là 5,8%; CPI 4,09% so với kế hoạch 7%; dư nợ tín dụng khoảng 12%; lãi suất giảm so với năm 2013; tỷ giá không biến động mạnh, cán cân thương mại hàng hóa đạt mức thặng dư hơn 3 tỷ USD; tỷ lệ thất nghiệp đến tháng 9 là 1,84%…

Để kinh tế năm 2015 tiếp tục phát triển, Việt Nam cần phải có những bước đi mạnh mẽ hơn trên tất cả các mặt, đặc biệt lưu ý điểm đột phá ở hệ thống tài chính. Nhân dịp cuối năm chúng ta nên cùng nhau xem xét thật khách quan để chỉ ra những yếu điểm của hệ thống tài chính năm 2014 cần khắc phục.

Chính sách kinh tế không nhất quán, còn mệnh lệnh hành chính

Tôi thấy cần phải suy ngẫm câu nói của ông Nguyễn Chí Dũng, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và ĐT tại một hội thảo khoa học ngày 22/12/2014. Đại ý ông ví von, cuộc sống đang là dòng chảy, thì nhà nước đưa ra quy định để đổ đá và be đắp làm tắc nghẽn dòng chảy. Khi thấy sai rồi, nhà nước bỏ đá đi, thì gọi là cải cách, hay đổi mới thể chế, bản chất cốt lõi là gì để chúng ta tìm được chìa khóa để cởi bỏ được, nếu không cứ cải cách lặp đi lặp lại mãi, làm mất cơ hội và thời gian của cả đất nước và nền kinh tế.

Đối với một quốc gia có thu nhập trung bình thấp thì hệ thống tài chính của Việt Nam là lớn, với tổng tài sản lên đến 200% GDP vào năm 2011. Mặc dù có quy mô lớn so với chuẩn quốc tế nhưng sự phát triển của hệ thống tài chính trong những năm gần đây có nhiều biến động, phản ánh môi trường bất ổn bên ngoài cũng như các chính sách kinh tế vĩ mô thất thường.

Các chuyên gia đã nói rằng chính sách kinh tế của ta quá dật cục và còn có tính mệnh lệnh hành chính, đôi khi can thiệp thô bạo vào thị trường, ví dụ, tăng trưởng tín dụng có diễn biến thất thường kể, năm 2007, tín dụng tăng 54%/năm (tương đương 20% GDP), đến năm 2008, tín dụng và hoạt động kinh tế đã chậm lại do tác động của khủng hoảng toàn cầu, buộc các cơ quan chức năng phải ứng phó.

Việc nới lỏng chính sách tài khóa và tiền tệ đã gây ra một đợt bùng nổ tín dụng khác vào năm 2009 và 2010, dẫn đến một đợt thắt chặt chính sách và tín dụng giảm mạnh trong năm 2011. Lo ngại về việc có thể đã thắt chặt quá mức trong bối cảnh môi trường toàn cầu suy yếu đã đưa đến một đợt nới lỏng mạnh chính sách khác trong năm 2012 bằng cách cắt giảm lãi suất và thực hiện một nhóm các biện pháp hành chính.

Tuy nhiên, dù đã nới lỏng chính sách nhưng lần này tăng trưởng tín dụng vẫn ở mức thấp, phản ánh chất lượng bảng cân đối tài sản của các ngân hàng đã suy giảm và đòi hỏi phải giảm tỷ lệ đòn bẩy. Mặc dù tình hình kinh tế vĩ mô có vẻ đã ổn định kể từ năm 2012 nhưng vẫn cần có một chương trình kết nối chặt chẽ để xử lý các điểm yếu của hệ thống tài chính.

Vấn đề sở hữu chéo và những lo ngại

Hệ thống ngân hàng Việt Nam có đặc điểm là mức độ sở hữu chéo cao giữa các ngân hàng với nhau và giữa các ngân hàng và doanh nghiệp. Mức độ sở hữu này bao gồm sở hữu các NHTMCP bởi các ngân hàng khác và bởi các tập đoàn kinh tế, mặc các tập đoàn đang thoái vốn ra khỏi các tổ chức tài chính, nhưng tình hình vẫn chưa được cải thiện. Cơ cấu cổ đông phức tạp đã gây ra những rủi ro đáng tiếc trong cho vay bên có liên quan nhằm tài trợ cho các dự án thiếu minh bạch. Cơ cấu này cũng đã dẫn đến tình trạng phóng đại vốn do cho vay mua cổ phần lẫn nhau và đã tạo điều kiện lách các quy định an toàn như giới hạn tập trung tín dụng.

Vấn đề này có thể được cải thiện không lại phụ thuộc rất nhiều chính sách khác, liệu thông tư 36 của NHNN có thể giải quyết được không.

Thông tin chưa minh bạch

Hiện nay, mức độ minh bạch trong việc tiếp cận các tài liệu pháp lý từ các cơ quan chính quyền còn thấp, doanh nghiệp và người dân phản ánh việc tiếp cận các văn bản này còn gặp nhiều khó khăn, do việc đăng tải các văn bản có liên quan của cơ quan nhà nước, của doanh nghiệp còn chưa kịp thời hoặc chưa đầy đủ.

Ví dụ, chỉ một con số nợ xấu mà cũng không nhất quán. Yếu kém về số liệu bắt nguồn từ một số yếu tố như các quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng còn chưa thỏa đáng (bao gồm cả việc phân loại các khoản nợ được tái cơ cấu), định giá tài sản thế chấp không đáng tin cậy và phân loại một số tài sản nhất định là thanh khoản cần đặt dấu hỏi. Thêm vào đó, còn có những quan ngại về việc xác định giá trị các tài sản phi tín dụng lớn trên bảng cân đối của các ngân hàng, đặc biệt là xác định chưa đầy đủ các khoản đầu tư (một số khoản liên quan đến các nghiệp vụ nhằm báo cáo thấp nợ xấu) và thiếu minh bạch khi báo cáo về các hạng mục khác như các khoản phải thu.

Có ý kiến cho rằng không thể biết chính xác thực trạng hoạt động của các ngân hàng Việt Nam bởi họ thật sự có thể dễ dàng giấu những khoản nợ xấu thông qua hệ thống các công ty con, cháu một cách dễ dàng và đơn giản. Những vấn đề công bố thông tin và chuẩn hóa thông tin công bố chưa bao giờ là điểm được giới đầu tư hài lòng. Quan trọng hơn, xuất phát từ mâu thuẫn lợi ích cốt lõi giữa vấn đề chủ sở hữu và người thực hiện, tại một số ngân hàng có cổ phần chi phối của nhà nước, những quyết định quản trị được đưa ra không thật sự phù hợp với thông lệ phục vụ lợi ích của cổ đông. Việc quản trị hoạt động kém đã dẫn tới mức độ rủi ro nợ xấu cao, hệ quả tất yếu của vấn đề nợ xấu là khả năng mất vốn trong hệ thống ngân hàng.

Như vậy, có thể thấy rằng các số liệu báo cáo có thể làm hài lòng một số người về mặt giấy tờ, còn con số khả năng thực tế sẽ làm chúng ta giật mình về thực trạng. Ví dụ, số liệu về thất nghiệp của VN đến tháng 9/2014 thì ngay cả những nước kinh tế phát triển có nằm mơ cũng khó mà được thế.

Tái cơ cấu ngân hàng còn chậm

Tốc độ tái cơ cấu lĩnh vực ngân hàng chậm hơn so với kỳ vọng, đặc biệt là quá trình hợp nhất trong ngành vực ngân hàng. NHNN đặt mục tiêu 6-7 thương vụ Mua lại & Sáp nhập (M&A) trong lĩnh vực ngân hàng trong năm 2014 và giảm 50% số lượng ngân hàng thương mại trong vòng 3 năm tới. Song trong năm nay vẫn chưa có thương vụ M&A mới nào.

Nợ xấu vẫn còn là nỗi lo

Xử lý nợ xấu trong hệ thống vẫn là vấn đề quan ngại chính cho dù các cơ quan chức năng đã áp dụng phương pháp xử lý nợ “đa chiều”. Tháng 9/2014, NHNN thông báo giá trị nợ xấu xử lý đạt 249 nghìn tỷ đồng so với con số 464 nghìn tỷ đồng tại thời điểm tháng 9/2012. Đến nay Công ty Quản lý Tài sản Việt Nam (VAMC) đã mua lại khối lượng nợ xấu đáng kể (khoảng 90 nghìn tỷ đồng xấp xỉ 4,2 tỷ đô la). Tuy nhiên, VAMC vẫn chưa đưa ra được một chiến lược rõ ràng và khả thi để giải quyết số nợ xấu đã mua một cách hiệu quả. Mặt khác, nỗ lực của VAMC trong hoạt động xử lý nợ còn đang bị cản trở do thiếu khung pháp lý liên quan tới phá sản và sở hữu tài sản nhằm bảo vệ VAMC và các ngân hàng thương mại tránh khỏi những kiện tụng pháp lý trong trường hợp gây ra tổn thất tiềm ẩn cho nhà nước khi chưa thể thiết lập một cơ chế thị trường xử lý nợ xấu rõ ràng.

Việc xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng cần phải giải quyết từ tận gốc thông qua nhiều giải pháp quản trị rủi ro, cùng liên quan đến vấn đề nợ công của các địa phương, vấn đề thanh khoản của các doanh nghiệp. Sử dụng VAMC chỉ là một công cụ giải quyết cái ngọn đối với các khoản nợ cũ, còn những khoản cho vay mới thì phải áp dụng giải pháp từ gốc.

Lợi nhuận giảm sút

WB cũng cho rằng, kết quả hoạt động của khu vực ngân hàng đã xấu đi trong những năm gần đây và có lẽ còn kém hơn so với báo cáo. ROA bình quân của tất cả các ngân hàng giảm từ 1,8% năm 2007 xuống 0,5% năm 2012, trong đó con số 0,5% có vẻ là đã bị phóng đại do chất lượng số liệu tài chính còn thấp.

Nói một cách khái quát hơn thì chất lượng số liệu tài chính thấp đã ảnh hưởng đến việc đo lường một cách chính xác hầu hết các chỉ số hiệu quả hoạt động như ROA (lợi nhuận ròng/ tài sản), tỷ lệ nợ xấu và các hệ số vốn.

Quản trị rủi ro chưa tốt

Việc quản trị kém được nhìn nhận ở hai giác độ quan trọng là thiết chế quản trị và quản trị hoạt động. Ở giác độ thứ nhất, các chuyên gia đánh giá rằng hệ thống quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng chưa đủ mạnh, các thông tin chưa thật sự rõ ràng và minh bạch.

Việc quản trị hoạt động kém đã dẫn tới mức độ rủi ro nợ xấu cao, hệ quả tất yếu của vấn đề nợ xấu là khả năng mất vốn trong hệ thống ngân hàng. Câu hỏi về quy mô nợ xấu thực tế vẫn chưa được giải đáp triệt để.

Chiến lược và sản phẩm chưa có sự khác biệt

Một vấn đề đáng nói là các ngân hàng không có chiến lược phát triển và chiến lược sản phẩm cụ thể một cách rõ ràng. Với hơn 100 ngân hàng, dường như chúng ta không nhìn thấy bất cứ một sự khác biệt nào trong chiến lược phát triển và sản phẩm của các ngân hàng đó. Một số ngân hàng có yếu tố tư nhân và yếu tố nước ngoài đang cố gắng tạo sự khác biệt, nhưng trên bình diện chung, có thể nói rằng các ngân hàng Việt Nam gần như là giống nhau về chiến lược, cạnh tranh trên cùng địa bàn, cùng loại sản phẩm và hệ quả tất yếu sẽ là những cạnh tranh không dựa trên nguyên tắc thị trường, hoặc nếu không thì cũng sẽ dẫn tới sự lỏng lẻo trong nguyên tắc hoạt động.

Trong khi thị trường bán lẻ đang rất có tiềm năng, bởi mới chỉ có 20% dân số có sử dụng dịch vụ ngân hàng, với số lượng dân số trẻ và sẵn sàng sử dụng các sản phẩm công nghệ hiện đại. Hiện nay các ngân hàng cũng đang hướng tới ngân hàng bán lẻ, tuy nhiên chưa thực sự đưa ra bản sắc riêng có của từng ngân hàng, bởi vì nếu chỉ đầu tư cho công nghệ và hạ tầng thôi thì chưa đủ.

Hướng tới sự phát triển bền vững

Từ 1986 – 2010, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 8%/năm, qua đó thu nhập của người dân được cải thiện, kéo theo đó là nhu cầu về các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng, vì vậy hệ thống ngân hàng đã có sự phát triển. Mặc dù vậy, tính đến nay tỷ lệ bao phủ dịch vụ của hệ thống ngân hàng còn ở mức thấp, mới có khoảng 20% dân số có tài khoản ngân hàng và chỉ một nửa trong số đó thật sự dùng các dịch vụ ngân hàng bán lẻ.

Có thể thấy rằng, còn nhiều khoảng trống giữa khả năng đáp ứng và nhu cầu thực tế của nền kinh tế và do vậy, cần có những bước đi mạnh dạn, có tính đột phá là một yêu cầu cấp thiết nhằm hướng tới phát triển hệ thống tài chính bền vững, đáp ứng nhu cầu dịch vụ ngày càng tăng, đảm bảo rằng dịch vụ ngân hàng đến được những nơi cần đến, góp phần phát triển kinh tế đất nước.

Để làm được điều này, đòi hỏi chúng ta cần thẳng thắn phân tích rõ những điểm hạn chế và kiên quyết giảm thiểu, tiến tới loại trừ những khiếm khuyết đã nói trên. Nhận rõ những yếu điểm, tìm ra nguyên nhân của hạn chế đã là một nửa của thành công. Muốn vậy, cần chúng ta thực sự có tâm trong sáng, vì cộng đồng và dân tộc, chú trọng đến đạo đức kinh doanh. Đừng để xảy ra chuyện vác đá cản dòng chảy, rồi lại nghiên cứu, cải tiến bỏ hòn đá đi để khơi thông dòng chảy như đã từng làm.

Thanh Long
Ảnh: vietstock

Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả và không nhất thiết là quan điểm của Đại Kỷ Nguyên Tiếng Việt.