Nền tảng của sự ổn định chiến lược ở Đông Á đang rạn nứt. Khi Hoa Kỳ và Trung Quốc đang tăng cường cạnh tranh về thương mại, công nghệ và an ninh, các yếu tố mà trước đây đã tạo nền tảng cho sự ổn định chiến lược đó của khu vực – và có thể tạo nên thành công kinh tế của khu vực – đã bị xói mòn đáng kể hoặc trở thành động lực chính của sự bất ổn định, Nikkei cho hay.

Sự ổn định chiến lược được đánh dấu chủ yếu bởi các mối quan hệ hợp tác giữa các cường quốc, đánh giá mối đe dọa lành tính và cạnh tranh tiềm ẩn để giành ưu thế quân sự, đã chiếm ưu thế ở Đông Á trong hầu hết thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh. Ngày nay, một vài trong số những trụ cột ổn định này vẫn đứng vững. 

Tuy nhiên, hai tác nhân chi phối Đông Á, Hoa Kỳ và Trung Quốc hiện đang trong một cuộc xung đột địa chính trị để ngỏ. Cả hai đều coi nhau như một mối đe dọa hiện sinh. 

Cuộc chiến thương mại và công nghệ đang diễn ra gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc đe dọa làm phân mảnh các dòng chảy thương mại, đầu tư và công nghệ của Đông Á, bởi vì Washington đã coi việc tách rời như một công cụ để làm suy yếu sức mạnh của Trung Quốc. Ở chiều ngược lại, phiên bản tách rời riêng của Trung Quốc nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường Mỹ và công nghệ Mỹ – sẽ đẩy nhanh hơn nữa sự phân mảnh này.

Chắc chắn là, Bắc Kinh đang cố gắng để kết hợp một khối thương mại riêng biệt, thông qua Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP), không bao gồm Mỹ. Nhưng chiến lược đó dường như ít có khả năng thành công sau khi mối quan hệ xấu đi nhanh chóng giữa hai thành viên lớn nhất RCEP, Trung Quốc và Nhật Bản, với việc Tokyo dường như đứng về phía Washington trong cuộc đọ sức với Bắc Kinh. 

Nhìn lại, Trung Quốc phần lớn phải chịu trách nhiệm về việc phá hủy nền tảng ổn định chiến lược của Đông Á. Sự trỗi dậy của Trung Quốc, đi kèm với việc xây dựng quân đội nhanh chóng, sự chuyển hướng sang chủ nghĩa độc tài cứng rắn ở trong nước và chính sách đối ngoại hiếu chiến, đã thay đổi cơ bản đánh giá về mối đe dọa của các quốc gia đóng vai trò quan trọng trong khu vực. 

Từ quan điểm của Bắc Kinh, hệ thống đồng minh của Mỹ và các hoạt động trong khu vực ra một mối đe dọa nghiêm trọng và không thể chấp nhận được đối với an ninh của họ. Mặc dù Trung Quốc đã hiện đại hóa quân đội từ giữa những năm 1990 ngăn chặn Mỹ can thiệp vào một cuộc xung đột trong tương lai ở eo biển Đài Loan, nhưng sự suy thoái nhanh chóng của quan hệ Mỹ-Trung chuyển từ “gắn kết” thành “xung đột mở” trong 2 năm qua đã tăng lên rất nhiều. Bắc Kinh khẩn trương và quyết tâm tiếp tục thu hẹp hơn nữa khoảng cách về năng lực quân sự với Mỹ.

Về phía Hoa Kỳ, được cảnh báo rằng những tiến bộ của Trung Quốc đang làm xói mòn lợi thế quân sự của họ, và phản ứng hợp lý duy nhất là phải thực hiện các hành động để duy trì lợi thế của mình. Sáng kiến ​​Răn đe Thái Bình Dương của Lầu Năm Góc, một kế hoạch 6 năm trị giá 27 tỷ USD, rõ ràng tập trung vào việc đối phó với mối đe dọa quân sự của Trung Quốc. Nó gần như chắc chắn là biện pháp đầu tiên trong số nhiều biện pháp tương tự được áp dụng.

Do hệ thống chính trị bí mật của Trung Quốc, chúng ta không biết liệu rằng Chủ tịch Tập Cận Bình và các đồng sự của ông ta có đưa ra phản ứng đối với Sáng kiến Răn đe Thái Bình Dương hay không, nhưng khả năng cao là Bắc Kinh sẽ coi đây là sự leo thang ở cấp độ đe dọa và sẽ phản ứng tương thích. 

Ở đây chúng ta có một vòng luẩn quẩn cổ điển. Đáng buồn thay, tất cả các dấu hiệu đều cho thấy cuộc chạy đua vũ trang này sẽ leo thang và khiến khu vực Đông Á trở nên kém an toàn và trở nên tồi tệ hơn. Logic của sự răn đe chỉ ra rằng Hoa Kỳ sẽ duy trì lợi thế đáng kể về chất đối với Trung Quốc và sẽ thắng thế một cách dứt khoát trong một cuộc xung đột tiềm tàng. Nhưng logic chiến lược thúc đẩy chính sách an ninh của Trung Quốc đòi hỏi rằng Quân đội Trung Quốc sẽ không để thua trong một cuộc xung đột như vậy nếu nó xảy ra.

Hiện tại, vì Mỹ và Trung Quốc đều ưu tiên sức mạnh quân sự trong cuộc cạnh tranh của họ, dự kiến sẽ có một cuộc vũ trang kéo dài và sự bất ổn chiến lược ngày càng gia tăng ở Đông Á. 

Một trong những bài học của Chiến tranh Lạnh là các cuộc chạy đua vũ trang đều nguy hiểm và cuối cùng cũng vô ích. Những lợi thế có được thông qua việc phát triển được nhiều vũ khí sát thương hơn có xu hướng chỉ là tạm thời, trong khi sự tự tin được tạo ra bởi ưu thế quân sự thường dẫn đến hành vi hung hăng hơn. 

Liên Xô và Hoa Kỳ bắt đầu hiểu điều này chỉ sau khi họ được cảnh báo hẹp về một cuộc trao đổi hạt nhân trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba và sau đó lãng phí hàng nghìn tỷ đô-la cho học thuyết “đảm bảo hủy diệt lẫn nhau” hay còn gọi là MAD, một chiến lược quân sự và chính sách an ninh quốc gia mà trong đó việc sử dụng vũ khí hạt nhân trên quy mô lớn của hai hoặc nhiều bên đối lập sẽ khiến cả hai bên tấn công và bên phòng thủ bị tiêu diệt hoàn toàn.

Câu hỏi đặt ra là liệu các nhà lãnh đạo ở Washington và Bắc Kinh có đủ khôn ngoan để bắt đầu tham gia vào việc kiểm soát vũ khí, xây dựng lòng tin và ngoại giao trước khi quá muộn hay không. Nếu họ tiếp tục ưu tiên cạnh tranh quân sự, thì kết quả có thể xảy ra là thảm họa chứ không phải là chiến thắng cho bên nào.