Vào ngày 1/7 tới đây, ĐCSTQ sẽ kỷ niệm 100 năm ngày thành lập, các nhà chức trách đã đề cập đến tư duy ngoại giao mới là “đối tác và không liên kết” và nhấn mạnh rằng sẽ thay đổi tư duy cũ từ “tìm kẻ thù” sang tư duy mới là “kết bạn rộng rãi” trong các mối quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, nhìn về quá khứ, không khó để nhận thấy rằng ĐCSTQ thường “đem phe này đánh phe khác”, “hiệp với kẻ thù nhỏ để cùng đánh kẻ thù lớn”, điều này cuối cùng đã biến mối quan hệ hữu nghị ban đầu trở thành mối quan hệ thù địch.

Sau khi ĐCSTQ thiết lập quyền lực chính trị vào năm 1949, quốc gia đầu tiên mà nó thiết lập quan hệ ngoại giao là Liên Xô với việc hai bên đã ký “Hiệp ước Hữu nghị, Liên minh và Tương trợ Trung-Xô” năm 1950. Tuy nhiên, kể từ sau cái chết của lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô Joseph Stalin và Khrushchev lên nắm quyền vào năm 1953, sự khác biệt giữa Liên Xô và Trung Quốc ngày càng gia tăng. Quan điểm chính thống cho rằng nguyên nhân chính dẫn đến mối quan hệ xấu xa giữa Trung Quốc và Liên Xô là do Khrushchev đã chỉ trích sự sùng bái Stalin tại Đại hội 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1956. Đồng thời, ĐCSTQ từ chối can thiệp khi Đảng Cộng sản Liên Xô tăng cường quyền kiểm soát các nước Đông Âu.

Đến năm 1958, ĐCSTQ yêu cầu Liên Xô cung cấp vũ khí hạt nhân, tàu ngầm hạt nhân đã hứa, và Liên Xô đề xuất xây dựng một đài phát thanh sóng dài trên lãnh thổ Trung Quốc để đổi lấy việc thành lập một hạm đội chung trong lãnh hải của Trung Quốc. Về vấn đề xây dựng một đài phát thanh, Mao Trạch Đông cho rằng việc này liên quan đến vấn đề chủ quyền, và đề xuất rằng Trung Quốc nên cung cấp một nửa kinh phí trong khi Liên Xô sẽ cung cấp một nửa kinh phí còn lại và công nghệ. Chủ quyền của đài phát thanh thuộc về Trung Quốc, và Liên Xô đã bác bỏ yêu cầu này. 

Về việc thành lập hạm đội chung, Mao tin rằng Liên Xô đang cố gắng kiểm soát quân sự đối với Trung Quốc. Hải quân Trung Quốc lúc đó rất yếu, dù có thành lập hạm đội chung cũng không thể chia sẻ đường bờ biển của Liên Xô. Về vấn đề này, Khrushchev không thể hiểu được phản ứng quyết liệt của Mao, nhất là khi Liên Xô vừa hứa cung cấp công nghệ tàu ngầm cho Trung Quốc”.

Theo Trầm Chí Hoa, một chuyên gia về lịch sử cuộc Chiến tranh Lạnh ở Trung Quốc, việc Mao Trạch Đông nổi giận về hạm đội chung là để lừa Khrushchev sang Bắc Kinh. Sau khi Khrushchev bí mật thăm Trung Quốc để hội đàm với Mao Trạch Đông, Mao bất ngờ đề nghị ra thông cáo chung về cuộc gặp này. Thông cáo chung khi đó nhấn mạnh: “Hai bên đã đạt được nhất trí hoàn toàn về… giải quyết các vấn đề quốc tế…”. 

Trên thực tế, hai bên không thảo luận về bất kỳ “vấn đề quốc tế” nào trong cuộc hội đàm. Và ngay sau khi Thông cáo chung được công bố, quân đội Trung Quốc đã nã pháo vào Kim Môn. Hoa Kỳ và Trung Hoa Dân Quốc đương nhiên tin rằng đây là một hoạt động quân sự mà Khrushchev và Mao Trạch Đông đã cùng nhau thảo luận. Nhưng trên thực tế, Mao Trạch Đông chưa bao giờ tiết lộ với Khrushchev việc pháo kích vào Kim Môn. Sự việc này sau đó đã trở thành một nguyên nhân quan trọng cho sự khác biệt giữa Trung Quốc và Liên Xô.

Ngoài ra, Trầm Chí Hoa cũng đề cập trong bài báo “Về những lý do nội bộ dẫn đến sự tan rã của Liên minh Xô-Trung” rằng ban lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô thực sự phản đối phong trào “Đại nhảy vọt” của Mao Trạch Đông.

Ông cũng phân tích rằng có hai yếu tố bên trong quyết định sự tan rã của liên minh Xô-Trung, một là “mâu thuẫn giữa lý tưởng của chủ nghĩa quốc tế và việc theo đuổi chủ nghĩa dân tộc, và sự đồng nhất của hệ tư tưởng thay thế hoặc che giấu sự khác biệt về lợi ích quốc gia”, và thứ hai là “bên trong liên minh”. Sự mâu thuẫn giữa các nguyên tắc tổ chức của lãnh đạo và được lãnh đạo; và quy tắc về quyền bình đẳng của tất cả các nước làm cho quan hệ giữa các bên với quan hệ nhà nước bị nhầm lẫn”.

Kể từ khi cải cách và mở cửa của ĐCSTQ vào cuối những năm 1970, đã xảy ra tranh chấp giữa cánh tả và cánh hữu trong nội bộ đảng, và sự kiện Thiên An Môn năm 1989 càng gây chấn động trong và ngoài nước.

Hồ Diệu Bang, Tổng Bí thư ĐCSTQ lúc bấy giờ và Triệu Tử Dương, Thủ tướng Quốc vụ viện, được coi là những nhà lãnh đạo của phe cải cách. Tuy nhiên, họ “bị coi là làm tổn hại đến lợi ích của các nhóm bảo thủ. Cuối cùng đã phải ra đi một cách đáng buồn. Sự cảm thông công khai của Triệu Tử Dương đối với sinh viên và những người phản đối đàn áp vụ Thiên An Môn đã làm dấy lên sự bất mãn của những người bảo thủ trong đảng như Trần Vân, Lý Tiên Niệm và Lý Bằng. Triệu Tử Dương sau đó đã bị cách tất cả các chức vụ và bị quản thúc tại gia.

Các tài liệu giải mật “ngày 4 tháng 6” năm 2017 của Cơ quan Tình báo Hoa Kỳ (CIA) cho thấy ĐCSTQ đã triển khai 300.000 binh sĩ trong vụ “ngày 4 tháng 6”, canh gác họ theo lệnh thiết quân luật trong và ngoài Bắc Kinh, và chuẩn bị thu dọn hiện trường. Năm 2014, tạp chí Next Magazine của Hồng Kông tiết lộ rằng Washington đã biết được các tài liệu nội bộ của Trung Nam Hải thông qua những người cung cấp thông tin thiết quân luật của Trung Quốc, cho biết có tới 40.000 người đã thiệt mạng và bị thương trong Phong trào ngày 4 tháng 6, hơn 10.000 người trong số họ đã bị thảm sát.

Vào thời điểm đó, nơi ở của Giang Trạch Dân không được tiết lộ và ông ta đã không xuất hiện cho đến ngày 26/5/1989, khi Anderson, Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Hồng Kông, báo cáo với Washington rằng ông đã biết tin từ một doanh nhân Hồng Kông, người tuyên bố có quan hệ với Giang. Gia đình của Giang Trạch Dân cho biết ông sẽ thay thế ứng viên Triệu Tử Dương làm tổng bí thư ĐCSTQ.

Khi Giang Trạch Dân rời ghế Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch ĐCSTQ vào năm 2002, ông ta đã đặt ra một số quy định đối với các thành viên của Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị, một trong số đó là không được đảo ngược sự việc ngày 4 tháng 6.

Những sự việc trên cho thấy, trong lịch sử phát triển của mình, ĐCSTQ chưa bao giờ xem ai là bạn, mà chỉ xem các mối quan hệ như một phương tiện để tồn tại. Còn trong nội bộ của mình, ĐCSTQ chỉ có phe cánh và tranh đấu; sẵn sàng dùng những thủ đoạn thấp hèn để loại bỏ những người được gọi là ‘đồng chí’ của mình để thỏa mãn quyền lực cá nhân.