10 nhân vật của thế giới, những người này một số được gọi là anh hùng và một số bị coi là nhân vật phản diện, họ đều đã qua đời trong năm 2019, dẫn theo James M. Lindsay trên CRF ngày 31/12. 

Abu Bakr al-Baghdadi

Awad Ibrahim Ali al-Badri—al-Baghdadi (sinh năm 1971), là một thủ lĩnh Nhà nước Hồi giáo (IS) đã tuyên bố thành lập một caliphate (vương quốc Hồi giáo) ở phía đông bắc Syria và phía tây Iraq. Ông ta lớn lên ở Samarra, Iraq, trong một gia đình bảo thủ tuyên bố có dòng dõi từ nhà tiên tri Mohammed. 

Al-Baghdadi đã học cử nhân, thạc sĩ và đang làm tiến sĩ (PhD) về luật Hồi giáo khi Hoa Kỳ tràn vào Iraq năm 2003. Ông ta đã tham gia một phong trào kháng chiến địa phương, và bị bắt vào năm 2004. Được thả sau 11 tháng, al-Baghdadi gia nhập nhóm mà sau đó trở thành IS. 

Abu Bakr al-Baghdadi (ảnh: Wikimedia).

Ông ta trở thành thủ lĩnh nhóm này năm 2010 sau khi Mỹ tiêu diệt 2 lãnh đạo trước đó. IS đã chiếm giữ lãnh thổ ở phía đông bắc Syria trong một cuộc nội chiến ở Syria, và vào năm 2014 ồ ạt tiến vào Iraq, vào một thời điểm đã kiểm soát 1/3 đất nước này. Tháng 6 năm đó, al-Baghdadi đã công bố thành lập caliphate mới từ minbar (vị trí một Khatib thuyết giảng) của một trong những nhà thờ Hồi giáo lâu đời nhất của Mosul.

Tháng 3/2017, thành trì cuối cùng của IS sụp đổ. Tháng 10/2019, al-Baghdadi đã kích nổ một chiếc áo vest tự sát khi Mỹ tấn công vào nơi ẩn náu của ông ta ở tây bắc Syria.

Jacques Chirac 

Jacques Chirac sinh năm 1932, ông giữ hai nhiệm kỳ tổng thống Pháp. Ông đã bảo vệ sự thống nhất châu Âu và phản đối việc Mỹ vào Iraq năm 2003. Chirac được nuôi dưỡng trong một khu phố cao cấp của Paris.

Ban đầu, Chirac muốn trở thành một thương gia hàng hải, nhưng cha ông muốn ông học Học viện chính trị Paris Sciences Po. Ông từng tham gia khóa học mùa hè tại Đại học Harvard và làm thêm rửa chén bát tại một khách sạn Howard Johnson’s ở địa phương. Sau khi tốt nghiệp Sciences Po, Chirac học tiếp Trường Hành chính Quốc gia Pháp.

Jacques Chirac (ảnh: Wikimedia).

Chirac đã làm việc một thời gian trong quân đội Pháp và chiến đấu ở Algeria. Sau đó, làm viên chức chính phủ và lọt vào mắt xanh của Georges Pompidou. Năm 1972, tổng thống khi đó là Pompidou đã bổ nhiệm Chirac là bộ trưởng nông nghiệp. Chirac giữ vị trí này một lần nữa vào giữa những năm 1980 dưới thời tổng thống Francois Mitterrand. 

Chirac được bầu làm thị trưởng Paris năm 1977 và giữ chức vụ này cho đến năm 1995, khi ông được bầu làm tổng thống. Trong năm 2011, Chirac bị kết tội tham ô và lạm dụng công quỹ trong thời gian khi ông còn là thị trưởng.

B.J. Habibie

Cựu tổng thống B.J. Habibie (sinh năm 1939) đã dẫn dắt nước Indonesia vào năm 1998 chuyển sang chế độ dân chủ. Sinh ra ở Parepare trên hòn đảo Sulawesi, là con thứ tư trong số tám người con. Habibie tốt nghiệp Học viện Công nghệ Bandung và sau đó lấy bằng tiến sĩ tại Học viện Công nghệ Đức Aachen. Ông đang làm việc tại Đức vào năm 1974 khi Suharto, nhà độc tài quân sự Indonesia thuyết phục ông mang bí quyết khoa học về nước.

4 năm sau, Suharto thăng chức cho Habibie làm bộ trưởng nghiên cứu và công nghệ. Năm 1998, Suharto bổ nhiệm Habibie vào vị trí phó tổng thống. Đất nước lúc đó ở trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á và làn sóng phản đối sự cai trị của Suharto đang gia tăng. Chỉ sau hai tháng làm việc, Habibie đã trở thành tổng thống khi Suharto từ chức.

B.J. Habibie (ảnh: Wikimedia).

Nhà khoa học trở thành chính trị gia đã và ở trong vai trò tổng thống chỉ 17 tháng, nhưng ảnh hưởng của ông khá sâu sắc. Ông kêu gọi các cuộc bầu cử tự do, thả tù nhân chính trị, làm việc để giảm bớt ảnh hưởng của quân đội bao trùm đời sống chính trị, và cho phép tự do báo chí. Ông cũng đồng ý với một cuộc trưng cầu dân ý do Liên Hợp Quốc giám sát về quyền tự quyết cho thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha, Đông Timor, nơi mà Indonesia đã chiếm đóng trong một phần tư thế kỷ. Động thái khiến nhiều người Indonesia xa lánh ông. Đó là lý do chính khiến Habibie rút khỏi cuộc bầu cử tổng thống năm 1999, kết thúc nhiệm kỳ chưa đầy 18 tháng.

Michael Howard

Michael Howard sinh năm 1922, là một cựu chiến binh người Anh đã trở thành một trong những nhà sử học quân sự vĩ đại nhất trong thế hệ của ông. Sinh ra trong một gia đình trung lưu có cha là người Quaker (Giáo Hữu hội) và mẹ là người Do Thái, Howard lớn lên ở London.

Ông học lịch sử tại Đại học Oxford. Sau khi tốt nghiệp vào năm 1942, ông được bổ nhiệm làm thiếu úy trong Lực lượng cận vệ Hoàng gia Anh (Coldstream Guards). Ông đã được trao tặng Huân chương Quân đội vì đã lãnh đạo một toán lính lưỡi lê chống lại một tổ súng máy của Đức ở Ý. Sau chiến tranh, Howard trở về Oxford và lấy bằng tiến sĩ.

Michael Howard (ảnh: Wikimedia).

Ông đảm nhận một vị trí tại Đại học King, London, nơi ông thành lập Khoa Nghiên cứu Chiến tranh. Ông cũng thành lập Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế. Năm 1968, ông lại trở về Oxford. Ông ở đó trong hai thập kỷ trước khi đảm nhận vị trí học thuật cuối cùng tại Đại học Yale.

Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông Howard là “The Franco-Prussian War: The German Invasion of France” (Chiến tranh Pháp-Phổ: Cuộc xâm lược của Đức ở Pháp). Ông Howard được phong tước hiệp sĩ năm 1986.

Kim Bok-dong

Bà Kim Bok-dong (sinh năm 1926) đã chiến đấu để thu hút sự chú ý về vấn đề của bà và hàng ngàn người phụ nữ Hàn Quốc khác bị quân đội Nhật bắt làm nô lệ tình dục trong Thế Chiến II.

Kim được sinh ra tại thời điểm khi Triều Tiên (Korea) chưa bị chia cắt, và là một thuộc địa của Nhật. Năm 14 tuổi, các quan chức Nhật Bản đã cưỡng bách cô làm việc trong một nơi mà cô được nói rằng là xưởng may. Nhưng bà bị ép sống cuộc sống của một nô lệ tình dục – gọi là “ủy an phụ” một từ được hiểu là “người phụ nữ mua vui” – tại các căn cứ quân sự Nhật Bản trên khắp Đông Á.

Kim nói, bà bị đối xử như “súc vật”, mỗi ngày phải tiếp 15 tên lính, và vào thứ Bảy và Chủ nhật lên tới hơn 50 tên.

Quân đội Nhật (ảnh: Wikimedia).

Sau khi chiến tranh kết thúc, Kim giữ im lặng về việc mình bị lạm dụng vì xấu hổ. Điều đó đã thay đổi trong đầu những năm 1990 khi một nữ nô lệ tình dục khác là Kim Hak-sun đã kể ra câu chuyện của mình.

Kim Bok-dong sớm ra mặt tham gia cùng Kim Hak-sun. Họ và những người phụ nữ “mua vui” khác đã yêu cầu một lời xin lỗi từ chính phủ Nhật Bản cũng như sự chuộc lỗi. Chiến dịch của họ ban đầu bị xa lánh bởi hầu hết người Hàn Quốc, kể cả các thành viên trong gia đình của họ. Ngày nay, đây là một vấn đề lớn trong quan hệ Nhật Bản – Hàn Quốc.

Lý Bằng

Lý Bằng sinh ra tại Thượng Hải vào năm 1928, là một cựu thủ tướng của Trung Quốc, có biệt danh là “đồ tể Bắc Kinh” vì vai trò trong việc đàn áp các cuộc biểu tình tại Quảng trường Thiên An Môn năm 1989.

Cha Lý Bằng là một nhà cách mạng bị những người theo chủ nghĩa dân tộc xử tử thời gian đầu cuộc nội chiến Trung Quốc. Thủ tướng tương lai Trung Quốc Chu Ân Lai khi đó là thầy của Lý Bằng.

Năm 1947, Lý Bằng được gửi đi học ở Moscow và ở lại đây trong 7 năm. Sau khi trở về Trung Quốc, Lý Bằng quản lý các nhà máy thủy điện và đã “vô tình” sống sót sau cuộc cách mạng văn hóa của Mao, có thể do sự bảo vệ của Chu. 

Lý Bằng (phải) và Klaus Schwab Li Peng & Klaus Schwab tại Hội nghị thường niên Diễn đàn kinh tế thế giới năm 1992 (ảnh: Wikimedia).

Sau khi Đặng Tiểu Bình trở thành lãnh đạo Trung Quốc năm 1978, Lý Bằng đã nhanh chóng thăng chức trong hàng ngũ đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1985, Lý Bằng là thành viên Bộ Chính trị và 2 năm sau lên chức thủ tướng.

Ở vị trí đó, Lý Bằng đã thúc đẩy việc xây dựng đập Tam Hiệp, dự án thủy điện lớn nhất thế giới. Khi các cuộc biểu tình ở quảng trường Thiên An Môn nổ ra vào năm 1980, Lý Bằng tuyên bố áp dụng thiết quân luật, trở thành người cầm đầu cuộc đàn áp của chính phủ. Tuy nhiên, Lý Bằng nhấn mạnh rằng chính Đặng đã đưa ra quyết định đè bẹp các cuộc biểu tình.

Mohamed Morsi 

Mohamed Morsi sinh năm 1951, là một thành viên của Muslim Brotherhood (Anh em Hồi giáo) đã trở thành tổng thống Ai Cập đầu tiên được bầu trong một cuộc bỏ phiếu tự do.

Morsi sinh ra và lớn lên ở Sharqiya, một thị trấn ở đồng bằng sông Nile, là một sinh viên giỏi, đã có bằng tiến sĩ về khoa học vật liệu tại Đại học Nam California.

Morsi trở lại giảng dạy tại Đại học Zagazig gần quê nhà. Ông gần như vô danh với hầu hết người Ai Cập khi trở thành ứng cử viên tổng thống của Muslim Brotherhood trong cuộc bầu cử lãnh đạo đất nước theo sau việc tổng thống Hosni Mubarak bị hạ bệ vào đầu năm 2011.

Bất chấp thực tế Muslim Brotherhood bị đặt ngoài vòng pháp luật Ai Cập trong phần lớn lịch sử của đảng này, Morsi đã được bầu làm tổng thống vào tháng 6/2012. Ông giữ cương vị hơn một năm.

Tháng 7/2013, bộ trưởng quốc phòng, tướng Abdel Fattah el-Sisi đã lãnh đạo một cuộc đảo chính và bắt đầu đàn áp Muslim Brotherhood, cáo buộc Morsi với một loạt tội ác, bao gồm làm gián điệp và khủng bố. Năm 2015, Morsi bị kết án tử hình, một bản án sau đó đã được lật lại. Cựu tổng thống Ai Cập đột tử trong một phiên tòa đang xét xử chính mình.

Robert Mugabe

Robert Mugabe (sinh năm 1924) dẫn đầu cuộc chiến chống lại cộng đồng thiểu số da trắng cầm quyền ở Rhodesia, và sau đó, thông qua sự cai trị ngày càng chuyên quyền của mình, đã đẩy đất nước Zimbabwe vào tình trạng khốn đốn.

Mugabe được sinh ra ở Nam Rhodesia khi đó là thuộc địa của Anh. Ông đã xuất sắc trong học tập và đầu những năm 1950 ông ta kiếm được học bổng du học Nam Phi. Ông đã dạy học ở Northern Rhodesia (nay là Zambia) và Ghana trước khi về trở quê nhà.

Robert Mugabe (ảnh: Wikipedia).

Mugabe giành được đa số phiếu quyết định trong cuộc bầu cử tự do đầu tiên được tổ chức tại nơi ngày này là Zimbabwe. Ông ta củng cố vững chắc quyền lực của mình, đầu tiên là thủ tướng và sau đó năm 1987 là tổng thống.

Mặc cho cam kết thống nhất đất nước, ông ta đã sử dụng vị thế của mình để đè bẹp các đối thủ chính trị. Các chính sách kinh tế của ông ngày càng trở nên tiêu cực. Tuổi thọ của người Zimbabwe giảm xuống mức thấp nhất trên thế giới. Năm 2017, Mugabe bị cách chức trong một cuộc đảo chính không đổ máu.

Yasuhiro Nakasone

Yasuhiro Nakasone sinh năm 1918, đã đạt được một chính sách đối ngoại quyết đoán hơn và quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ với tư cách là thủ tướng Nhật Bản vào những năm 1980.

Nakasone sinh ra và lớn lên ở phía bắc Tokyo, là một sinh viên giỏi, ông tốt nghiệp đại học Tokyo năm 1938. Cuối cùng ông gia nhập hải quân Nhật Bản, nơi ông được thăng cấp trung úy.

Yasuhiro Nakasone (ảnh: Wikipedia).

Nakasone chuyển sang làm chính trị sau Thế Chiến II, giành được một ghế trong Nghị viện trong năm 1947. Ông cũng đã phát triển một tình bạn thân thiết với Tổng thống Ronald Reagan. Nakasone rời Nghị viện trong năm 2003.

Sadako Ogata

Sadako Ogata (sinh năm 1927) là người phụ nữ đầu tiên lãnh đạo Cao ủy Tị nạn Liên Hợp Quốc (UNHCR).

Ogata sinh ra tại Tokyo trong một gia đình chính trị nổi tiếng. Là con gái của một nhà ngoại giao, Ogata sống khắp nơi trên thế giới. Bà tốt nghiệp đại học nữ sinh Sacred Heart ở Tokyo, từ đây bà kiếm được học bổng để học thạc sĩ tại Đại học Georgetown. Sau đó, bà lấy bằng tiến sĩ về khoa học chính trị tại Đại học California, Berkeley.

Vào thời điểm mà ít phụ nữ nhật đi làm, bà Ogata đã theo đuổi cả sự nghiệp học thuật và ngoại giao. Bà giảng dạy lần đầu là tại Đại học Sophia Tokyo. Năm 1968, bà được bổ nhiệm vào phái đoàn Nhật Bản tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Bà đã giữ nhiều vị trí khác nhau trong các nhiệm vụ của Nhật Bản trong hàng chục năm.

Sadako Ogata (ảnh: Diễn đàn kinh tế thế giới / Michael Wuertenberg).

Năm 1991, bà được bổ nhiệm làm người đứng đầu UNHCR. Nhiệm kỳ của bà trùng hợp với sự gia tăng các cuộc xung đột, bao gồm cả ở Iraq, Đông Timor, Rwanda, và Nam Tư cũ, đã tạo ra một sự gia tăng về người tị nạn. Bà đã thúc đẩy UNHCR để giải quyết hoàn cảnh không chỉ của những người bị đẩy qua biên giới bởi xung đột, mà còn cả những người bị di dời trong chính đất nước của họ.

Sau khi rời khỏi UNHCR trong 2001, bà Ogata trở thành người đứng đầu Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản.