Những cơn sóng chính trị có lẽ chưa bao giờ dừng vỗ ở Trung Nam Hải. Gần đây một loạt các quan chức cấp Thứ trưởng, Bộ trưởng như Tôn Lực Quân, Phó Chính Hoa ngã ngựa vì liên quan đến âm mưu đảo chính. 

Mọi thứ chưa lắng xuống thì mới đây phía quân đội Trung Quốc lại có một động thái khiến ngoại giới rất quan tâm. Ngày 11/10, cơ quan ngôn luận của quân đội Trung Quốc – Báo Giải phóng quân – đăng một bài viết có tiêu đề: ‘Luôn giữ danh tiết không đoạ lạc‘, trích từ một câu thơ trong bài ‘Tĩnh dạ tứ’ của đại thần triều Minh là Vu Khiêm.

Nội dung đại khái của bài viết là ca ngợi Vu Khiêm giữ chức Binh bộ thượng thư – tương đương Thứ trưởng Bộ Quốc phòng – đã đứng trung lập trong cuộc đảo chính cung đình diễn ra vào năm 1457. 

Cuộc chính biến này là ‘Đoạt môn chi biến’, đây là ‘cuộc chiến vương quyền’ giữa 2 người, một người là Hoàng đế đương nhiệm – Cảnh Thái Đế, người còn lại là Thái thượng hoàng – Minh Anh Tông. Nói một cách thông tục thì đây là cuộc chiến giữa 2 hổ trong 1 rừng để định ‘chúa sơn lâm’. 

Trong tình huống quan to ngã ngựa vì dính dáng đến âm mưu đảo chính, việc quân đội Trung Quốc đăng một câu chuyện về chính biến cung đình năm xưa phải chăng là vô duyên vô cớ? Bối cảnh của ‘Đoạt môn chi biến’ như thế nào, từ đó liên hệ đến cuộc chiến nội bộ ở Trung Nam Hải ra sao, quân đội Trung Quốc muốn ám chỉ điều gì?…

Nhà sử học, đồng thời cũng là người có am hiểu sâu sắc về văn hoá Trung Hoa và chính trường Trung Quốc – Giáo sư Chương Thiên Lượng trong Chính luận thiên hạ đăng ngày 14/10 đã phân tích bài thơ ‘Tĩnh dạ tứ’ của Vu Khiêm, kể lại câu chuyện chính biến năm xưa, từ đó kết nối và đưa ra góc nhìn về tình hình nội chính của ĐCSTQ như sau. 

Bài thơ ‘Tĩnh dạ tứ’ của Vu Khiêm

Bài này cùng tên với ‘Tĩnh dạ tứ’ của Lý Bạch nhưng nội dung khác nhau. Trong đó viết: 

Tĩnh dạ tứ (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh) (1)

Hào hoa nhất khứ nan tái đắc
Tráng khí tiêu trầm thổ nhất khâu.
Đãn lệnh danh tiết bất đoạ địa
Thân ngoại khu khu an dụng cầu.

Câu thứ nhất có nghĩa rằng: vinh hoa phú quý dễ mất đi, mà sau khi mất thì rất khó lấy lại.

Câu thứ hai có nghĩa là: nếu một người mất đi tráng chí (ý chí to lớn) thì không khác gì như một người đã chết. “Thổ nhất khâu” ý chỉ mộ phần. 

Hai câu cuối có nghĩa như sau: nhưng nếu làm cho danh tiết không rơi rụng, thì hết thảy những thứ bên ngoài đều có chỗ dùng. Nói cách khác, chỉ cần giữ gìn danh tiết thì hết thảy đều không phải bận tâm. 

Báo Giải phóng quân lấy câu thơ thứ ba là tiêu đề nhưng đổi chữ đầu từ “Nhưng giữ danh tiết không đoạ lạc” thành “Luôn giữ danh tiết không đoạ lạc”. Giáo sư Chương nhận định sự thay đổi này có ý vị rất sâu xa nhưng sẽ phân tích ở sau. 

Bối cảnh của ‘Đoạt môn chi biến’: 1 quốc gia 2 Hoàng đế

Sự việc ‘Đoạt môn chi biến’ (binh biến đoạt môn) diễn ra vào năm 1457 (năm Cảnh Thái thứ 8 triều Minh) ở Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh. Nhưng ngọn nguồn manh nha của chuyện này lại bắt đầu từ 8 năm trước đó, tức năm 1449 (năm Chính Thống thứ 14). 

Minh Anh Tông kế vị lúc 9 tuổi, khi ấy chưa hiểu việc gì, phải có người dỗ dành và chơi cùng, người ấy là Thái giám Vương Chấn. Khi Minh Anh Tông lớn lên ông rất nghe lời Vương Chấn. 

Năm 1449, Minh Anh Tông chỉ mới 23 tuổi, khi đó một bộ lạc của Mông Cổ là Ngoã Lạt do Thái sư Dã Tiên lãnh thiết kỵ xâm lược Trung Quốc. Vương Chấn xúi giục Anh Tông đem quân đi đánh. Lúc ấy Anh Tông không hiểu chuyện cũng không biết sợ, thế là đem 50 vạn đại binh tấn công tộc Ngoã Lạt đồng thời, giao quyền chỉ huy cho Vương Chấn. Kết quả Vương Chấn không biết chỉ huy, cuối cùng thất bại, Anh Tông bị bắt làm tù binh.

Trước khi thân chinh, Anh Tông giao việc triều chính cho em trai là Thành Vương – Chu Kỳ Ngọc quản lý. Sau khi tin tức Anh Tông bị bắt làm tù binh truyền đến kinh thành, bầu không khí sầu thảm tràn ngập khắp triều đình. Lúc đó đại thần thảo luận không ngớt nhưng vẫn lưỡng lự chưa quyết. 

Trong đó có người là Từ Trình khuyên mọi người dời đô về Nam Kinh. Các quan văn đều muốn đầu hàng, nhưng có Vu Khiêm một mình chống lại ý kiến số đông nói: “Nếu ai nói dời đô về Nam Kinh thì lập tức chém người đó”. Vu Khiêm là Binh bộ Thượng thư tương đương với Thứ trưởng Bộ Quốc phòng ngày nay.

Vu Khiêm (ảnh: Wikipedia).

Lúc này triều Minh đối diện với 2 vấn đề nan giải. Hoàng đế hiện tại đi theo quân Dã Tiên đến kinh thành, nếu Hoàng đế bảo mở cửa thành mà không mở thì bất trung với Hoàng đế, nhưng nếu mở thì bất trung với giang sơn xã tắc.

Vu Khiêm đã thỉnh Thái hậu, tức mẹ của Anh Tông đứng ra lập Thành Vương Chu Kỳ Ngọc làm Hoàng đế. Niên hiệu của ông là Cảnh Thái, lịch sử gọi là Cảnh Thái Đế, miếu hiệu là Đại Tông.

Còn Anh Tông thì làm thế nào? Anh Tông được lập thành Thái Thượng Hoàng. Lúc này nếu Anh Tông bảo mở cửa thì không mở, bởi vì phải nghe lệnh từ Hoàng đế mới, chứ không nghe lệnh Thái Thượng Hoàng.

Anh Tông bị bắt làm tù binh tháng 8/1449, Đại Tông đăng cơ vào tháng 9. Đến tháng 10, Dã Tiên chỉnh đốn binh mã chuẩn bị tấn công Tử Kinh Quan, bao vây Bắc Kinh. Lúc này Vu Khiêm lệnh quân Minh xuất thành tác chiến, khiến Dã Tiên bại trận. 

Sau khi bại trận, đến tháng 8/1450, Dã Tiên thương lượng với nhà Minh sẽ trả Anh Tông về nước. Lúc đó Cảnh Thái Đế ra sức khước từ, ông lo lắng nếu Anh Tông về thì ông không được làm Hoàng đế nữa. Nhờ Vu Khiêm an ủi rằng vì tình huynh đệ nên hãy đón Anh Tông về, Cảnh Thái Đế mới đồng ý. Nhưng khi Anh Tông về nước thì bị giam lỏng ở Nam Cung, đãi ngộ vô cùng kém, không khác tù nhân là mấy. 

Đây là bối cảnh của ‘Đoạt môn chi biến’, 1 quốc gia 2 Hoàng đế, Hoàng đế hiện tại là Cảnh Thái Đế, Hoàng đế quá khứ là Thái Thượng Hoàng Minh Anh Tông. Đãi ngộ của Thái Thượng Hoàng vô cùng kém. Giáo sư Chương liên hệ đến thực tế của Trung Quốc hiện nay, Tập Cận Bình thì giống Hoàng Đế, còn Giang Trạch Dân thì giống Thái Thượng Hoàng.

Hàm ý ‘Đoạt môn chi biến’: quân đội nên đứng trung lập trong ‘chính biến cung đình’

Cảnh Thái Đế làm Hoàng đế 8 năm (1449 – 1457). Ông muốn lập con trai làm thái tử để kế vị, kết quả thái tử mất trước ông, nên ông buồn rầu đến sinh bệnh. 

Vu Khiêm là người cương trực không xu nịnh nhưng trong triều đình có một nhóm tiểu nhân như Từ Trình, Thạch Hanh v.v. Nhóm này lại thấy Vu Khiêm không thuận mắt.

Đến tháng đầu tiên năm Cảnh Thái thứ 8 (1457), Cảnh Thái Đế bệnh nặng. Thạch Hanh (vốn là tướng quân đánh trận) cho rằng, nếu phò tá Thái Thượng Hoàng phục vị, ông ta sẽ giống như công thần, như vậy có thể thăng quan tiến chức. Thạch Hanh thông qua sự đồng ý của Thái hậu, sau đó lại tìm đến Từ Hữu Trinh để thương lượng việc phục vị cho Anh Tông. Nhóm này còn có một mục đích nữa là hạ bệ Vu Khiêm.

Ngày 16 tháng Giêng năm 1457, hôm đó mây đen che kín bầu trời, tối đến mức giơ tay ra không thấy 5 ngón, nhóm người này đem binh mã nhập kinh thành, tiến thẳng đến Nam Cung – nơi giam lỏng Anh Tông. Họ dùng khối gỗ lớn phá cửa, nhưng cửa không sập mà khiến bức tường ở bên đổ rạp. Họ tiến vào quỳ lạy trước Anh Tông sau đó ‘bê’ Thái Thượng Hoàng lên kiệu tiến về đại nội.

Khi họ đến cửa ngoài hoàng thành là Đông Hoa Môn, binh sĩ giữ cửa không cho họ tiến vào, Anh Tông mới hét lớn: “Ta là Thái Thượng Hoàng”. Binh sĩ giữ cửa không dám ngăn cản, như thế nhóm người làm chính biến có thể tiến vào hoàng cung mà không phải đổ máu. Vì Anh Tông hét to “Ta là Thái Thượng Hoàng” sau đó đoạt môn tiến vào, cho nên sự kiện này mới có tên là “Đoạt môn chi biến”. 

Nhóm người tiến vào điện Phụng Thiên (điện Thái Hoà ngày nay), để Anh Tông ngồi lên ngai vàng, sau đó rung chuông đánh trống triệu tập quần thần. Sau khi văn võ bá quan tiến vào, phát hiện người ngồi trên ngài vàng không phải là Cảnh Thái Đế mà là Minh Anh Tông. Tiếp sau, Từ Hữu Trinh thông báo: “Thái Thượng Hoàng đã phục vị”. Toàn bộ sự việc trên gọi là ‘Đoạt môn chi biến’. 

Sau khi Anh Tông khôi phục chức vị Hoàng đế, Cảnh Thái Đế bị phế truất, không lâu sau thì tạ thế.

Giáo sư Chương kể câu chuyện lịch sử ở trên chính là muốn phân tích điều này: Báo Giải phóng quân tán dương Vu Khiêm, bởi vì trong ‘chính biến cung đình’, Vu Khiêm là Binh bộ thượng thư, nắm trong tay binh lực hùng hậu, nhưng lại đứng ngoài chuyện này. Điều này ám chỉ đến việc: nếu Thái Thượng Hoàng đảo chính, quân đội sẽ không can dự. 

Giáo sư Chương đã nói ở trước, người tại vị lúc này là Tập Cận Bình có thể coi như Cảnh Thái Đế, còn người chuẩn bị làm chính biến là Thái Thượng Hoàng.

Ở Trung Quốc ai có thể được coi là Thái Thượng Hoàng?

Chính là cựu lãnh đạo Giang Trạch Dân. Câu chuyện được kể trong báo Giải phóng quân, dường như cũng đang ám chỉ tình huống của Giang Trạch Dân không khác gì Anh Tông bị giam cầm ở Nam Cung. Thêm vào đó, thủ hạ của Giang Trạch Dân còn có đám lâu la rục rịch muốn động, cũng muốn phát động chính biến.

Cựu chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân (ảnh chụp màn hình SWI/Youtube).

Tiêu đề của bài viết ‘Luôn giữ danh tiết không đoạ lạc’ cũng có những ám chỉ sâu xa. Giáo sư Chương nhìn nhận rằng: quân đội ở phe ông Tập, chỉ cần ‘luôn giữ danh tiết’ như Vu Khiêm, đứng trung lập để Giang Trạch Dân phục vị, thì những chuyện xưa coi như gạch sổ bỏ qua, Giang Trạch Dân sẽ cho những người đó hưởng vinh hoa phú quý và danh vọng. Tập Cận Bình đang là Chủ tịch Quân uỷ trung ương nhưng từ bài viết còn thấy thêm một điểm nữa, chính là quyền bính trong quân đội không hoàn toàn nằm trong tay ông Tập.

Một số người cho rằng phía quân đội Trung Quốc chỉ đăng một câu chuyện lịch sử chứ không ý ám chỉ điều gì, nhưng Giáo sư Chương có nhìn nhận khác. Môi trường dư luận ở Trung Quốc không việc gì là vô duyên vô cớ, nhiều người nói nhiều việc mang đầy tính gợi ý. Ở Trung Quốc là thời đại thịnh hành của ‘văn tự ngục’, lời bạn giảng ra khiến người khác liên tưởng, lúc đó bạn có thể gặp nguy hiểm. 

Xem thêm: 

CEO Trung Quốc mất tỷ đô trong nháy mắt vì đăng thơ cổ

Ngày 9/10, tờ Wall Street Journal đưa tin Meituan bị phạt 3,44 tỷ đô-la Mỹ (khoảng 77 nghìn tỷ đồng). Nguyên nhân là hiện nay ĐCSTQ đang chấn chỉnh truyền thông, nguồn vốn, thương mại điện tử… nhưng Meituan bị phạt còn có một nguyên nhân nữa: CEO của tập đoàn này đăng một bài thơ có tên ‘Phần thư khanh’ (Hố đốt sách) của thi nhân Chương Kiệt đời Đường. CEO này sau đó đã xoá toàn bộ những bài đăng của mình trên Fanfou và Weibo để tránh ‘hoạ từ miệng mà ra’. 

Mà báo Giải phóng quân là cơ quan ngôn luận của quân đội Trung Quốc lại dám lớn tiếng kể chuyện về cuộc đảo chính của Thái Thượng Hoàng, đồng thời khuyên quân đội đứng trung lập. Ẩn ý này đã trở nên rất rõ rằng, cho nên chúng hãy xem bước tiếp theo liệu có cuộc đọ sức nào giữa Tập Cận Bình và Tăng Khánh Hồng thuộc phe Giang hay không. 

Chú thích: 

(1) Nguyên văn chữ Hán bài thơ Tĩnh dạ tứ:

静夜思
豪華一去難再得
壯氣銷沉土一丘。
但令名節不墮地
身外區區安用求。