Dịch virus corona sau khi lây nhiễm hàng loạt, gia tăng chết chóc ở thành phố Vũ Hán và những nơi khác tại Trung Quốc, đã lan tới cả các quốc gia khác, làm ngưng trệ du lịch và thương mại cũng như dấy lên nỗi sợ hãi về một đại dịch toàn cầu.

Thật khó mà tưởng tượng ra bất kỳ điều gì tốt đẹp trong cái thảm họa y tế cộng đồng này. Tuy nhiên, nếu các nước đồng thuận và phối hợp chính sách với nhau thì có thể làm nên một biến đổi lịch sử.

Chính quyền độc tài Trung Quốc với sự vô dụng và bất lương, đã đổ thêm dầu vào lửa, không những gây ra thảm họa dịch bệnh mà còn có thể là dẫn tới sự sụp đổ của chính mình. Chính phủ các nước phương Tây vì lương tâm và các lý do an toàn, không thể đứng ngoài tiến trình này.

Vào năm 1972, Richard Nixon đã thúc đẩy việc mở cửa Trung Quốc. Ông viết trong chiến dịch của mình rằng: “Thế giới không thể an toàn trừ khi Trung Quốc thay đổi”. Ông nói rằng không thể bỏ mặc một Trung Quốc cô lập để nó “ấp ủ những ảo tưởng, nuôi dưỡng sự căm ghét, và đe dọa các nước láng giềng”. Để thoát khỏi “chất độc” của Mao Trạch Đông, Nixon cảnh báo, “thế giới phải mở cửa cho Trung Quốc và Trung Quốc phải mở cửa cho thế giới”.

Vào những năm 1980, Đặng Tiểu Bình nói “cải cách là cuộc cách mạng thứ hai của Trung Quốc”, và Đặng đã thực hiện một loạt các hoạt động mở cửa nền kinh tế. Nhưng hy vọng về một cải cách chính trị có thể diễn ra tiếp sau cải cách kinh tế, đã hoàn toàn sụp đổ bởi sự tàn nhẫn trong vụ thảm sát ở quảng trường Thiên An Môn. 

Để duy trì những mối quan hệ của Trung Quốc với thế giới bên ngoài, Đặng đã căn dặn các đồng chí của mình “phải biết che giấu và chờ thời”.

Vào năm 1995 và 1996, Giang Trạch Dân đã bắt đầu cởi bỏ lời khuyên của Đặng bằng cách cho thấy việc sử dụng vũ lực vẫn đóng vai trò rất quan trọng, hành động này dựa trên một câu nói của Mao: “quyền lực chính trị sinh ra từ nòng súng”.

Trung Quốc đã phóng hỏa tiễn về phía biển Đài Loan nhằm phản đối sự cương quyết hướng tới dân chủ của hòn đảo, và khi Mỹ điều hàng không mẫu hạm tới khu vực, một quan chức quân đội Trung Quốc đã đe dọa: “Các ông nên quan tâm nhiều hơn tới Los Angeles thay vì Đài Loan”. Một vài năm sau, một vị tướng khác của Trung Quốc thậm chí còn nói sẽ xóa sổ “hàng trăm thành phố của Mỹ”.

Đến năm 2000, 30 năm sau chính sách mở cửa của Nixon, Washington lại một lần nữa cố gắng thúc đẩy Trung Quốc đi vào cải cách. Nhưng bằng một cách rất lạ, chính quyền Clinton đã bỏ sang một bên các đánh giá nhân quyền hàng năm, vốn để cân nhắc xem có tiếp tục duy trì Quy chế Quan hệ thương mại Bình thường Vĩnh viễn với Trung Quốc hay không.

Tổng thống Clinton đã tách cân nhắc về quyền con người ra khỏi đặc quyền thương mại như thể chúng không liên quan, và cho phép Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Khi tôi băn khoăn về sự gia nhập này của Trung Quốc, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Jesse Helms đã hỏi liệu sự gia nhập này có dẫn đến việc làm thay đổi Trung Quốc hay không. Tôi đã tuyên bố rằng, có nhiều khả năng nó thay đổi chính chúng ta.

Một khi Trung Quốc gia nhập WTO, như có thể đã dự đoán được, các cơ chế kiểm soát thường xuyên bị coi nhẹ hoặc bỏ qua. Trong khi hội nhập với thế giới được cho là để giúp thúc đẩy các cải cách chính trị ở Trung Quốc, thì phương Tây đã không bắt được Trung Quốc phải tuân theo các quy tắc thương mại mà nó đã công nhận.

Tập Cận Bình lên nắm quyền trong bối cảnh phương Tây đang tự thích nghi, nên đã không thấy cần phải tuân theo chiến lược “ẩn mình chờ thời” của Đặng nữa. Trung Quốc công khai phô trương thanh thế và tỏ rõ ý đồ xâm lược ở biển Hoa Đông, biển Đông và một lần nữa, cả đối với Đài Loan. Bắc Kinh dùng mô hình “một Trung Quốc, hai chế độ” để siết chặt Hồng Kông và Đài Loan.

Đối với các dân tộc ở Tây Tạng và Tân Cương (Đông Turkestan), Tập Cận Bình đã thẳng tay đàn áp, đỉnh cao là một mạng lưới các trại tập trung, nơi một triệu người Duy Ngô Nhĩ chịu đựng sự tàn bạo và tẩy não theo kiểu của trại cải tạo Gulag.

Ở Trung Quốc, tất cả các nhóm tín ngưỡng đều bị đàn áp một cách khốc liệt. Pháp Luân Công – một môn khí công thiền định – đã bị đàn áp dã man, phi nhân tính, theo kiểu công nghiệp – thu hoạch nội tạng sống – vượt xa cả sự tàn bạo của Đức Quốc xã.

Giờ đây, với chủng mới của virus corona khởi phát ở Vũ Hán, tiếp sau các dịch bệnh SARS và cúm gia cầm đều tập trung ở Trung Quốc, và cả cuộc khủng hoảng thuốc giảm đau có tính chất gây nghiện (nhóm opioid), thế giới theo nghĩa đen, đang phát ốm lên vì tất cả những gì chính quyền Trung Quốc đang làm, để đền đáp lại sự hào phóng và nuông chiều mà thế giới dành cho nó.

Món nợ trăm năm “bách niên quốc sỉ”, được cho là phương Tây, Hoa Kỳ và Nhật Bản đã xâu xé lãnh thổ Trung Quốc trong khoảng thời gian 1839-1949, đã được phương Tây hoàn trả lại quá hậu hĩnh trong mấy chục năm qua. Nếu còn bất kỳ món nợ nào, thì đó là người dân Trung Quốc cần phải được trả lại “70 năm xót xa tủi hổ” do chính lãnh đạo của họ đã gây ra. Từ Thiên An Môn đến Hồng Kông, bao nhiêu người Trung Quốc đã đứng lên phản đối và biểu tình, trong tình hình dịch bệnh nghiêm trọng hiện tại, rõ ràng là đã đến lúc cần có sự thay đổi.

Phương Tây, dẫn đầu là Hoa Kỳ, nên công khai ý định ủng hộ cải cách nội bộ ở Trung Quốc. Bắc Kinh luôn chống lại sự can thiệp vào các vấn đề nội bộ của mình, lời kêu ca thông lệ này cần phải được vạch trần vì bản chất đạo đức giả của nó, đồng thời phải chú ý đến việc Trung Quốc đã can thiệp rất sâu vào các phương tiện truyền thông và các thể chế của phương Tây.

Các nỗ lực của phương Tây nhằm khuyến khích cải cách chính trị ở Trung Quốc không cần phải phức tạp hay hệ trọng gì, chỉ đơn giản là tiếp tục mở rộng các chiến dịch phát thanh và truyền thông kỹ thuật số. Toàn dân Trung Quốc, thông qua các phương tiện này sẽ biết được những gì đang xảy ra trên thế giới, bao gồm cả nước láng giềng Triều Tiên, và về chính những gì đang diễn ra tại Trung Quốc. Biết được sự thật, người dân Trung Quốc sẽ tự ngẫm và quyết định lấy số phận của mình.

Vì hạnh phúc của người dân Trung Quốc và vì lợi ích của chính người dân phương Tây, những nỗ lực này không bao giờ là quá muộn.

Theo Joseph Bosco / The Hill
Triệu Hằng dịch và biên tập