“Seasons in the sun” hẳn là có rất nhiều người thuộc thế hệ 8x, 9x biết đến bài hát này nhờ giai điệu dễ hát, dễ thuộc và lời hát buồn, xúc động. Tuy nhiên, nhiều người sẽ bất ngờ khi bài hát gốc không có âm hưởng cũng như nội dung như chúng ta vẫn thường biết đến.

Le Moribond – bản gốc của Seasons In The Sun

“Seasons in the sun” nguyên là một bản nhạc Pháp có tên là “Le Moribond” (Người đàn ông hấp hối), được viết vào năm 1961 bởi ca sĩ kiêm nhạc sĩ người Bỉ Jacques Brel.

videoinfo__video.thebl.com||c6e510d1d__

Một phần lời bài hát lúc đó như sau:

“Adieu Curé, je vais mourir
C’est dur de mourir au printemps, tu sais
Mais je pars aux fleurs la paix dans l’âme
Car vu que tu étais son confident
Je sais que tu prendras soin de ma femme
Je veux qu’on rie, je veux qu’on danse
Je veux qu’on s’amuse comme des fous
Je veux qu’on rie, je veux qu’on danse
Quand c’est qu’on me mettra dans le trou
Adieu l’Antoine, je t’aimais pas bien
Adieu l’Antoine, je t’aimais pas bien tu sais
J’en crève de crever aujourd’hui

Tạm dịch:

Tạm biệt Tony, tôi sẽ chết
Thật khó để chết vào mùa xuân, bạn biết đấy
Nhưng tôi đi đến những bông hoa yên bình trong tâm hồn
Bởi vì kể từ khi bạn là người tình của vợ tôi
Tôi biết bạn sẽ chăm sóc vợ tôi
Tôi muốn cười, tôi muốn nhảy
Tôi muốn vui vẻ như điên
Tôi muốn cười, tôi muốn nhảy
Khi nào họ đưa tôi vào lỗ
Tạm biệt Tony, tôi không thích bạn
Tạm biệt Tony, tôi không thích bạn, bạn biết đấy
Tôi sắp chết hôm nay

Đọc qua lời bài hát ta thấy nội dung khá là u ám: Một người đàn ông biết vợ mình ngoại tình với bạn. Anh ta rất sốc và có ý định tự sát. Những lời nói kia chính là lời trăn trối của người đàn ông gửi cho người bạn “Tony” và vợ của anh ta.

Dù khi biểu diễn nhạc được chỉnh với tiết tấu nhanh vừa đủ, gãy gọn, người ta vẫn có thể cảm nhận được sự u tối và hằn học của nhân vật trong bài hát.

Bản “Le Moribond” thời đó khá nổi ở Pháp, nhưng chỉ được một thời gian là nhanh chóng đi vào lãng quên. Cho đến ngày nay thậm chí khá nhiều người còn bất ngờ với “bản gốc” quá khác biệt này.

Phiên bản “Seasons In The Sun” đầu tiên

“Seasons in the Sun” bản tiếng Anh đầu tiên được Kingston Trio cho ra mắt vào năm 1963, phần lời của ca khúc khác biệt so với phiên bản gốc của Brel ở đoạn nói về người vợ ngoại tình, McKuen đã nói thẳng, chứ không chỉ là những ám chỉ mỉa mai.

Adieu, Francoise, my trusted wife, without you I’d have had a lonely life.
You cheated lots of times but then, I forgave you in the end though your lover was my friend.”

Tạm dịch:

“Tạm biệt, Francoise, người vợ đáng tin cậy của tôi, không có em, tôi đã có một cuộc sống cô đơn.
Em đã lừa dối (tôi) nhiều lần nhưng sau đó, tôi vẫn tha thứ cho em, mặc dù người yêu em là bạn của tôi.”

videoinfo__video.thebl.com||a1a1e8a10__

Nhiều người cho rằng đây là phiên bản tiếng Anh hay nhất của Le Moribond, và cũng nhiều người không hiểu sao mà nó bị chìm vào trong quên lãng.

Bản “Seasons in the Sun” được nhiều người biết đến

“Seasons in the Sun” nhiều người biết đến được thu âm ở Vancouver, B.C. vào năm 1973 bởi Terry Jacks. So với phiên bản gốc, Jacks đã bỏ đi những nội dung tiêu cực trong bản gốc và thêm vào đó rất nhiều nội dung tích cực, ví dụ như đoạn về cô con gái nhỏ:

“Goodbye Michelle my little one
You gave me love and helped me find the sun
In every time that I was down
You would always come around
And get my feet back on the ground
Goodbye Michelle it’s hard to die
When all the birds are singing in the sky
Now that the spring is in the air
With the flowers everywhere
I wish that we could both be there…”

Tạm dịch:

“Tạm biệt Michelle, đứa con bé bỏng của cha
Con đã cho cha tình yêu và giúp cha tìm thấy mặt trời.
Và mỗi lần khi cha gục ngã
Con luôn luôn đến bên cha
Và nâng đỡ cha dậy
Tạm biệt Michelle, thật khó để ra đi
Khi mà những chú chim đang ca hát trên bầu trời
Khi mà giờ đây mùa xuân đang tràn ngập khắp không gian
Cùng với những bông hoa ở khắp mọi nơi
Cha ước rằng chúng ta có thể cùng nhau ở đó.”

videoinfo__video.thebl.com||a9560f847__

Điều này góp phần làm cho ca khúc dễ nghe và tươi sáng hơn rất nhiều. Ca từ của bài hát bây giờ đã mang nét nghĩa hoàn toàn khác: kể về một người đối diện với cái chết nhưng thay vì buồn bã và đau khổ, oán trách cuộc đời, anh đã gửi lời từ biệt đến những người anh yêu thương nhất: bạn bè, cha và cô con gái nhỏ. Thay vì sự tăm tối của cái chết đang cận kề thì bài hát như được thắp sáng bởi tình yêu cuộc sống. Qua đó, ta thấy trân trọng cuộc sống này hơn.

Một tháng sau ngày ra mắt, “Seasons in the Sun” đã lọt vào trong bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Ngày 02/03/1974, ca khúc đứng đầu Hot 100, đánh bật những ca khúc khác cũng đang rất nổi danh vào thời điểm đó như “The Way We Were” (Barbara Streisand), “Boogie Down” (Eddie Kendricks), “Jungle Boogie” (Kool and the Gang), và trụ vững ba tuần liên tiếp. Ở Canada và Anh, Jacks cũng đạt được thành công tương tự. Người ta tính có hơn 14 triệu đĩa được bán ra trên toàn thế giới.

Gần đây nhất, “Seasons in the Sun” tiếp tục sống dậy với bản cover của nhóm nhạc Westlife. Seasons in the Sun do Westlife trình bày đã bán được hơn 650.000 bản ở Anh và leo lên đứng đầu bảng xếp hạng Những ca khúc vào mùa Giáng Sinh năm 1999. Ở bản này nhóm Westlife vẫn giữ nguyên phần ca từ sâu sắc của bài hát vì vậy mà khiến người nghe không bị hụt hẫng, bởi ca từ do Terry Jacks trình bày đã là quá đẹp và sâu sắc, khó có thể viết hay hơn. Nhóm Westlife chỉ thay đổi nhạc đêm cho trở nên du dương và lung linh hơn, đây là một thay đổi rất khéo để người nghe vẫn cảm thấy cái mới, cái đáng nghe trong phần biểu diễn của nhóm.

videoinfo__video.thebl.com||d884ed84d__

Như vậy, ở những bản “Seasons In The Sun” đầu tiên, với nội dung khá tiêu cực nên đã không được khán giả đón nhận và nhanh chóng bị quên lãng. Cho đến năm 1973 được Terry Jacks viết lại ca từ thì “Seasons In The Sun” mới thực sự đi vào lòng người và trở thành bản nhạc quen thuộc của nhiều thế hệ khán giả.

Trong dòng chảy của lịch sử, những điều còn mãi là các giá trị tốt đẹp và tích cực, đem lại hi vọng cho cuộc đời, còn những điều tư tâm, vị kỷ thì sẽ nhanh chóng bị quên lãng. Đó là sự thanh lọc của lịch sử, mà bài hát “Seasons In The Sun” là một ví dụ.

Hy vọng

Xem thêm: