“Nhàn thư” ở đây chỉ một loại sách không liên quan gì đến bất cứ chuyên ngành hay chuyên môn công việc gì, chỉ là những câu chuyện hay nghiên cứu mang tính giải trí, tự do nhưng ẩn sâu là những đạo lý phản ánh hiện thực lúc bấy giờ mà những cổ nhân viết ra hoặc ghi chép lại. Nhàn nhân độc nhàn thư, người rảnh rỗi đọc nhàn thư, có thể nói như đứng trên cõi thần tiên, hướng nhân gian đến thanh tịnh hạnh phúc. 

Cổ nhân cho rằng lúc chúng ta rảnh rỗi nên đọc một chút nhàn thư, như vậy mới có thể thực sự lấy được những hứng thú trong việc học hành hay những công việc khác. Nếu như mục đích việc học hành không phải để lấy công danh lợi lộc hay cũng không dập theo một phương thức cụ thể, thì càng có thể đạt được những hàm dưỡng tinh thần tinh tế. Các trường học ở Trung Quốc mỗi ngày đều giới thiệu học sinh đọc mười bản “Nhàn thư” của cố nhân, nhìn thì tưởng như không có tác dụng gì nhưng thực tế lại rất hữu ích!

Dưới đây sẽ điểm qua 9 cuốn nhàn thư được coi là nổi bật trong lịch sử.

(Tiếp theo Phần 1)

5. Phù sinh lục ký

Tác giả: Trầm Phục, triều đại nhà Thanh.

 “Phù sinh lục ký” là một cuốn tự truyện của Trầm Phục, đã được Lâm Ngữ Đường dịch sang tiếng Anh. Tiêu đề của cuốn sách là “Lục ký”, nhưng nội dung lại chỉ có “Tứ ký”, vì thế mà có những tác giả mạo danh “có ý tốt” viết nốt “Lưỡng ký” để bù vào đó. “Tứ ký” được chia thành 4 phần có tên như sau: “Khuê phòng ký nhạc” (Âm nhạc), “Nhàn tình ký thú” (Sở thích nhàn rỗi), “Khảm khả ký sầu” (Rào cản nỗi buồn), và “Lãng du ký khoái” (Du ngoạn). 

Trích minh họa trong “Phù sinh lục ký” (Ảnh: zhuanlan.zhihu)

“Nhàn tình ký thú” giống như một mặt trăng lộng gió, nhưng khi đọc không hề mất đi sự tao nhã, mỗi câu là một tiếng lòng, mỗi sự việc là một sự chân thành. Nội dung cùng với chữ viết tất cả đều thanh tịnh sáng tỏ, nói đã hết mà ý còn xa. “Khảm khả ký sầu” ghi lại cảnh cha con lạc mất nhau, nhớ rằng họ bị di tản, nhớ cảnh mồ côi cha mẹ, đọc chúng giống như đọc “Thủy hử”. “Thiên hạ khảm khả, thế đạo gian nan, nhãn khán sơn cùng thủy tận” (Thiên hạ lận đận, thế đạo khó khăn, mắt thấy đến cuối cùng của con đường), nhưng với một niềm tin sẽ có thiên đường từ bi chỉ lối cho nhân gian. 

“Lãng du ký khoái” thì viết về phong cảnh và thắng cảnh, viết về ngôi đền cổ trong núi sâu, viết về thành Tích Khê, viết về lầu Hoàng Hạc, về bức tường màu đỏ với trái tim tràn đầy cảm xúc. Nét đáng yêu của “Khuê phòng ký nhạc” nằm trong khả năng khám phá hương vị và ý nghĩa từ những thứ trần tục: “Nhất hoa nhất thiên đường, nhất sa nhất thế giới” (Một bông hoa và một thiên đường, một hạt cát và một thế giới).

Trầm Phục có hai tình yêu trong đời, một tình yêu với đọc sách thư họa, một tình yêu đối với người vợ của mình. Ông có đưa hình ảnh vợ mình vào trong “Phù sinh lục ký” dưới nhân vật Trần Vân; và Lâm Ngữ Đường phải thốt lên rằng: “Trần Vân trong ‘Phù sinh lục ký’ là người phụ nữ tốt nhất Trung Quốc”.

Trích minh họa trong “Phù sinh lục ký” (Ảnh: xuehua)

6. Thôi Bối Đồ

“Thôi Bối Đồ” được gọi là “cuốn sách tiên tri đầu tiên của Trung Quốc”. Tương truyền rằng nó được Đường Thái Tông Lý Thế Dân viết dùng cho việc tính toán vận mệnh của triều đại nhà Đường. Sau đó được biên chỉnh viết lại bởi Lý Thuần Phong và sư phụ của ông là Viên Thiên Cang. Lý Thuần Phong đã sử dụng Chu Dịch Bát Quái để tiến hành tính toán, không ngờ khi trong khi tính toán ông đã bị say mê bởi nó. Ông đã thực sự tính toán được vận mệnh của Trung Quốc sau 2000 năm kể từ thời nhà Đường, cho đến khi Viên Thiên Cang đẩy lưng ông từ đằng sau và nói rằng: “Thiên cơ không thể được tiết lộ, hãy chỉ dừng ở đây”.

Từ câu chuyện này mà tên của cuốn sách được đặt là “Thôi Bối Đồ” (“Thôi” là thúc, đẩy; “Bối” là lưng). “Thôi Bối Đồ” tổng cộng gồm 60 bức phú tượng (bức vẽ), bên dưới mỗi bức phú đều đi kèm “sấm ngữ” (lời tiên tri) và “Tụng viết” viết theo thể thơ, dự ngôn những sự kiện chính xảy ra trong lịch sự Trung Quốc từ thời nhà Đường cho đến nay và tương lai sau này.

Minh họa Viên Thiên Cang đầy lưng Lý Thuần Phong (Ảnh: Epochtimes)

Nếu không tính phần lời đề tựa và lời kết thì “Thôi Bối Đồ” gồm có 58 lời tiên tri. Truyền thuyết kể rằng: Kim Thánh Thân thời nhà Thanh lúc tại thế ứng nghiệm với lời tiên tri thứ 33 trong sách. Khá nhiều người cho rằng lời dự ngôn thứ 39 đến 47 đại diện cho lịch sử Trung Quốc từ giữa thế kỷ 20 đến đầu thế kỷ 21. Trong đó từ lời dự ngôn thứ 39 đến 42 đã xảy ra. Trong thực thế cuốn “Thôi Bối Đồ” được cho là “nhàn thư” là vì trong đó ngập tràn những câu đố thú vị. Nội dung đằng trước nó có thể được xem như một chuỗi các sự kiện lịch sử, nội dung phía sau dùng để mọi người đoán, có thể được sử dụng như một trò chơi giải đố.

7. U Mộng Ảnh

“U Mộng Ảnh”, thính điểu thính phong thính tùng trúc (nghe tiếng chim , nghe tiếng gió, nghe tiếng tùng trúc)

Tác giả là Trương Triều, triều đại nhà Thanh. Mặc dù Trương Triều phải dùng tiền mới có được chức quan trong triều nhưng ông sau này ông lại không muốn làm quan nữa, ông muốn phần đời còn lại của mình để “ngâm phong lộng nguyệt” (thắng cảnh làm thơ), làm một nhà viết sách, lấy việc viết “nhàn thư” làm thú vui. Cả một đời Trương Triệu chủ yếu xoanh quanh những câu chuyện tận hưởng cuộc sống, cảm nhận những nét thanh cao duy mỹ trong sinh hoạt đời thường.

Nhìn vào những câu văn trong “U Mộng Ảnh”, có thể thể hội được sự nhàn nhã tận hưởng của ông:

Xuân thính điểu thanh, hạ thính thiền thanh,
Thu thính trùng thanh, đông thính tuyết thanh“;

(Xuân nghe tiếng chim, hạ nghe tiếng ve, thu nghe côn trùng kêu, đông nghe tuyết rơi).

Bạch trú thính kỳ thanh, nguyệt hạ thính tiêu thanh“;

(Ban ngày nghe tiếng chơi cờ, dưới ánh trăng nghe tiếng tiêu).

Sơn trung thính tùng thanh, thủy tế thính ai nãi thanh, phương bất hư sinh thử nhĩ“.

(Trong núi nghe tiếng tùng trúc, trên sông nghe tiếng mái chèo, như vậy mới không uổng phí sinh ra đôi tai này).

Sơn chi quang, thủy chi thanh, nguyệt chi sắc, hoa chi hương, văn nhân chi vận trí, mỹ nhân chi tư thái, giai vô khả danh trạng

(Ánh sáng của núi, âm thanh của nước, màu sắc của mặt trăng, hương thơm của hoa, sự quyến rũ của văn chương, cử chỉ của cái đẹp, là không thể diễn tả).

8. Trà Kinh

Tác giả: Lục Vũ, triều đại nhà Đường.

Được coi là “Thánh nhân tài đức vẹn toàn”, ông là một trong những thánh nhân mà không thể không nhắc đến trong lịch sử Trung Quốc. Hầu hết những thánh nhân đều là những người sống trong thời kì trước Công Nguyên, vậy mà trong thời đại nhà Đường lại có một người được gọi là thánh nhân chỉ với một cuốn sách. Ông chính là “Trà Thánh Lục Vũ” và cuốn sách “Trà Kinh” của ông được biết đến là chuyên gia trà học đầu tiên trên thế giới, có sức ảnh hưởng lớn đến các thế hệ sau này. 

Tương truyền rằng hồi nhỏ vì vẻ bề ngoài xấu xí mà ông bị bỏ rơi, sau đó có một vị tu sĩ nhận nuôi dưỡng. Đến năm 12 tuổi ông trốn ra khỏi tu viện, đi đến một đoàn kịch để học biểu diễn. Mặc dù với tướng mạo không ưa nhìn, lại bị nói lắp nhưng ông lại rất hài hước dí dỏm, rất duyên dáng. Sau đó ông lớn lên cùng thơ văn, gặp gỡ kết giao với nhiều quan lớn, cao tăng và danh sĩ, thành tựu bản thân..

“Trà Kinh” – Lục Vũ (Ảnh: sns.91ddcc)

Lục Vũ có một bài hát “Lục Tiện Ca” :

Bất tiện hoàng kim lôi, bất tiện bạch ngọc bôi;
bất tiện triêu nhập tỉnh, bất tiện mộ nhập đài;
Thiên tiện vạn tiện tây giang thủy, tằng hướng cánh lăng thành hạ lai

(Không muốn chén hoàng kim, không muốn ly bạch ngọc, chẳng muốn sáng vào triều, chẳng muốn chiều vào cung; Ngàn mong vạn muốn nước sông Tây Giang (nước ngon pha trà), nên đã từng đến thành Cánh Lăng).

Từ đây có thể nhìn ra được nét duyên dáng của ông.

“Trà Kinh” có hơn 7.000 từ, cả quá trình viết mất đến gần 30 năm, đây là một sự chuyên cần và nghiêm túc trong việc viết tác phẩm của ông. Trong lịch sử văn hoá Trung Quốc, Lục Vũ đã tạo ra một bộ sách nghiên cứu chi tiết về trà, nghệ thuật trà, tư tưởng trà đạo. Trong xã hội Trung Quốc truyền thống, nghiên cứu của ông đã trở thành một biểu tượng của thời đại. 

Các nghiên cứu giải trí như nghiên cứu trà và nghệ thuật trà chỉ là “những con đường nhỏ”, được coi là khó trở thành các nghiên cứu chính thống. Lục Vũ không giống như những nhà văn nói chung bị ràng buộc bởi giáo lý Nho giáo, ông có thể mang nó vào văn chương và đem nó vượt ra xa những ràng buộc. Đem những tư tưởng và biện xét mỹ học của mình dung hoà vào trà với cuộc sống sinh hoạt đời thường, từ đó sáng lập ra văn hoá trà.

Lục Vũ (Ảnh: Wikisource)

9. Bình Sử

Tác giả: Viên Hoành Đạo, thời nhà Minh. 

Nghệ thuật cắm hoa ở Trung Quốc có một lịch sử rất lâu đời. Nó bắt nguồn từ việc dâng hoa cúng trong Phật Giáo, bắt đầu từ thời Nam Bắc Triều, đến đời Đường Tống thì phát triển rộng. Trong thời nhà Minh, nghệ thuật cắm hoa đã bước vào đỉnh cao của nó. Đặc biệt là vào giữa và cuối triều đại nhà Minh, các văn nhân mặc khách đam mê với nguồn cảm hứng từ thiên nhiên, một số lượng cây trồng thực vật được trồng trọt, làm bạn với hoa, gửi tình vào cây cỏ hoa lá. Những gì mà bình hoa đem đến với người chính là sự giao tiếp gần gũi trong tầm tay với thiên nhiên. Nó là một sức sống có thể được bảo tồn trong trần thế, nó truyền cảm hứng và làm hài lòng mọi người về tinh thần. Đó là kết quả của niềm vui bất tận khi có cái nhìn quan sát vạn vật.

Thời kỳ Minh triều nghệ thuật cắm hoa rất cường thịnh

 “Bình Sử” gồm có hai cuốn, bản chính tổng cộng có 12 chương, cộng với các trích dẫn nhỏ. “Bình Sử” nói về việc lựa chọn hoa, môi trường nuôi dưỡng cùng với cách cắm hoa, v.v . Đối với từng phần đều được xây dựng và phân tích rất kỹ lưỡng. Đây là tập sách hiếm hoi để nghiên cứu về nghệ thuật cắm hoa ở Trung Quốc.

Theo Soundofhope.org

Uyển Vân biên dịch