Trước âm mưu xâm lược Đại Việt của nhà Tống, danh tướng đương triều của Đại Việt – Thái úy Lý Thường Kiệt bẩm tấu rằng: “Ngồi yên đợi giặc sao bằng đánh trước để bẻ gãy mũi nhọn của nó. Đồng thời đề ra chủ trương thực hiện một chiến lược đánh đòn phủ đầu gọi là kế “Tiên phát chế nhân”, quyết định mở trận tiến công quy mô lớn sang chinh phạt đất Tống…

Lý Thường Kiệt (1019-1105) tên thật là Ngô Tuấn, tự Thường Kiệt. Ông sinh ra trong gia đình danh tướng, cha là Sùng Tiết Tướng quân Ngô An Ngữ. Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam, Lý Thường Kiệt là hậu duệ của Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập – con trưởng của Ngô Quyền…

Tên tuổi danh tướng Lý Thường Kiệt gắn với chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ hai của quân dân Đại Việt trong đó trận đánh “Tiên phát chế nhân” do đích thân ông xuất binh sang chinh phạt nước Tống được coi là một trong những chiến công hiển hách nhất trong lịch sử nước nhà.

Chân dung Lý Thường Kiệt trên bìa sách của Hoàng Xuân Hãn. (Ảnh: Wikipedia)

Bối cảnh lịch sử của trận đánh

Năm 1010, Lý Công Uẩn lập ra nhà Lý. Để củng cố khu vực biên giới phía bắc, nhà Lý dùng chính sách gả công chúa cho các thủ lĩnh miền núi để gắn chặt mối quan hệ với họ. Trải qua 3 triều vua Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông và Lý Thánh Tông, nước Đại Việt phát triển ổn định và khá vững mạnh.

Ở phương bắc, nhà Tống từ khi thành lập (năm 960) đã phải khắc phục những hậu quả do thời chia cắt Ngũ đại Thập quốc để lại. Ngoài việc đánh dẹp các nước cát cứ, nhà Tống phải đối phó với nước Liêu của người Khiết Đan lớn mạnh ở phương bắc. Đến thời Tống Thái Tông, dù dẹp hết các nước trong Thập quốc nhưng nguy cơ uy hiếp từ phía nhà Liêu vẫn luôn tiềm ẩn với nhà Tống.

Sang thời hoàng đế Tống Nhân Tông, nhà Tống lại bị thêm sự uy hiếp của nước Tây Hạ của người Đảng Hạng ở phía tây bắc mới nổi lên. Triều Tống phải cống nộp nhiều của cải và bị mất nhiều phần lãnh thổ cho Liêu và Tây Hạ. Trong nước, triều đình lại bị rối loạn bởi những cải cách của Vương An Thạch. Bởi vậy chủ trương tiến đánh các nước phía nam Trung Quốc để giải tỏa các căng thẳng trở thành một chiến lược của nhà Tống.

Tượng Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) tại Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội (dựng năm 2004). (Ảnh: Wikipedia)

Kế hoạch Nam chinh của nhà Tống

Từ năm 1070, Vương An Thạch – Một viên quan chuyên đảm trách về Kinh tế – chính trị trong triều chú ý đến phương Nam và muốn lập công ở ngoài biên, y tâu lên vua Tống rằng:

– Giao Chỉ vừa đánh Chiêm Thành bị thất bại, quân không còn nổi một vạn, bệ hạ có thể lấy quân Ung Châu sang chiếm Giao Chỉ (Đại Việt).

Vậy là năm 1073, vua Tống Thần Tông bèn phái Thẩm Khởi làm Quảng Tây Kinh Lược Sứ truyền cho lo việc xuất quân chuẩn bị đánh chiếm Giao Chỉ. Thẩm Khởi liền cho đặt các doanh trại, sửa đường tiếp tế, phủ dụ 52 động thuộc Ung Châu sung công các thuyền chở muối để diễn tập thủy chiến, chuẩn bị Nam chinh.

Tuy nhiên sau đó Thẩm Khởi làm trái ý vua Tống, y bị điều đi nơi khác và Lưu Di thay chức. Lưu Di nhận lệnh một mặt bèn tăng cường binh lực, tiếp tục điểm dân, tích lương, đóng chiến thuyền, luyện tập thủy binh… một mặt lại cấm người Đại Việt sang đất Tống buôn bán vì sợ bị do thám.

Đặc biệt để dọn đường cho kế hoạch chinh phạt xuống phía Nam, nhà Tống đã biến Ung Châu thành một căn cứ quân sự để chuẩn bị cho việc xuất binh đánh Đại Việt và giao cho Tô Giám, một viên tướng dày dặn kinh nghiệm trong cuộc chiến chống đội quân của thủ lĩnh Nùng Trí Cao trước đây chỉ huy căn cứ này.

Lưu Di nhận lệnh một mặt bèn tăng cường binh lực, tiếp tục điểm dân, tích lương, đóng chiến thuyền, luyện tập thủy binh… (Ảnh: Shutterstock)

Lý Thường Kiệt đề xuất chiến lược ‘Tiên phát chế nhân”, chủ động đưa quân sang đánh nước Tống

Năm 1072 vua Lý Thánh Tông qua đời, thái tử Càn Đức mới 7 tuổi lên ngôi, xưng hiệu là hoàng đế Lý Nhân Tông. Thái phi Ỷ Lan làm nhiếp chính, được sự phò tá của các đại thần, đặc biệt là hai rường cột của triều đình là Lý Thường Kiệt và Lý Đạo Thành nên tình hình quốc gia của Đại Việt vẫn khá ổn định.

Tuy nhà Tống cố gắng giữ bí mật, nhưng nhờ do thám thông tin, Đại Việt ta vẫn nắm được ý đồ của quân Tống. Đặc biệt, năm 1073, một tiến sĩ nhà Tống là Từ Bá Tường vì không được trọng dụng nên đã đem bí mật quốc gia trao đổi với nhà Lý. Bởi thế triều đình Đại Việt đã nắm được khá đầy đủ tình hình chuẩn bị chiến tranh của nhà Tống.

Lúc này bên Tống đang tập hợp và huấn luyện khoảng 10 vạn quân ở ba căn cứ là Ung Châu, Khâm Châu, và Liêm Châu, song chưa thể chinh chiến ngay được vì số quân này là tân binh vùng Hoa Nam vừa mới tuyển về. Nhà Tống dự định sẽ rút thêm 45 ngàn cấm binh thiện chiến ở phương Bắc đưa xuống bổ sung cho chiến trường phía Nam để lập đạo quân chủ lực, khi đó sẽ tiến đánh Đại Việt.

Trước tình hình đó danh tướng đương triều của Đại Việt – Thái úy Lý Thường Kiệt bẩm tấu rằng:

“Ngồi yên đợi giặc sao bằng đánh trước để bẻ gãy mũi nhọn của nó. Đồng thời đề ra chủ trương thực hiện một chiến lược đánh đòn phủ đầu gọi là kế “Tiên phát chế nhân”, quyết định mở trận tiến công quy mô lớn sang đất Tống.

“Ngồi yên đợi giặc sao bằng đánh trước để bẻ gãy mũi nhọn của nó…” (Bìa sách NXB Kim Đồng)

Trận Khâm, Liêm: Đại Việt tốc thắng

Thực hiện chiến lược “Tiên phát chế nhân”, Đại Việt đã huy động 10 vạn quân sang đánh phá căn cứ Ung Châu của nhà Tống, bao gồm cả lực lượng chính quy của triều đình kết hợp với quân của các thủ lĩnh dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc.

Theo kế hoạch, đạo quân của triều đình do đích thân Lý Thường Kiệt chỉ huy, gồm cả thủy quân và lục quân xuất phát từ vùng Móng Cái – Quảng Ninh ngày nay theo phía Đông tiến vào đất Tống, đánh chiếm Khâm Châu.

Còn đạo quân của các thủ lĩnh dân tộc thiểu số ở phía Tây đặt dưới sự chỉ huy của Tông Đản chia làm 4 mũi tiến vào đất Tống: Lưu Kỷ từ Quảng Nguyên (Cao Bằng), Hoàng Kim Mãn từ Môn Châu (Đông Khê – Cao Bằng), Thân Cảnh Phúc từ Quang Lang (Lạng Sơn) và Vi Thủ An từ Tô Mậu (Quảng Ninh) tiến đánh Ung Châu. Theo kế hoạch đã định: đạo quân phía Tây sẽ “giương Tây” để đạo quân phía Đông bất ngờ “kích Đông”.

Lại nói về bên Tống, hệ thống Phòng ngự Ung Châu gồm hai phần, tổng số có 5.000 quân, có nhiệm vụ giữ biên thuỳ – nơi giáp ranh với Đại Việt và đóng quân trong thành, trong đó: 2.000 quân đóng ở thành Ung Châu; 3.000 quân còn lại chia ra đóng ở 5 trại tiếp giáp biên giới Đại Việt là: Hoành Sơn, Thái Bình, Vĩnh Bình, Cổ Vạn, Thiên Long.

Khâm Châu và Liêm Châu nằm sát biển tiếp giáp Quảng Ninh và Lạng Sơn ngày nay, đặt viên Phòng Biên tuần sứ cai quản đoàn quân Đằng Hải để hợp với quân của hai viên tuần kiểm, không quá 500 người, đóng ở hai trại: Như Tích giáp biên thuỳ châu Vĩnh Anh và Để Trạo ở cửa sông Khâm Châu.

Ngày 27 tháng 10 năm 1075, Vi Thủ An theo lệnh Lý Thường Kiệt dẫn 700 quân từ Tô Mậu vào đánh Cổ Vạn, chiếm được trại Cổ Vạn. Tin tức đến tận ngày 21 tháng 12 mới tới được triều đình nhà Tống. Tiếp theo, các mũi quân phía Tây lần lượt đánh chiếm trại Vĩnh Bình, Thái Bình và các châu Tây Bình, Châu Lộc, cùng trại Hoành Sơn.

Ngày 30 tháng 12 năm 1075, châu Khâm bị chiếm, Trần Vĩnh Thái và các thủ hạ Văn Lương, Ngô Phúc, Tưởng Cẩn, Tống Đạo đều bị bắt và bị giết. (Ảnh qua kienthuc.net.vn)

Đúng như dự đoán của Lý Thường Kiệt, Quân Tống bị thu hút vào phía Tây, nên lơ là ở phía Đông. Đã có người Khâm Châu phát hiện và báo cho tướng giữ thành là Trần Vĩnh Thái về nguy cơ quân Đại Việt tấn công nhưng Thái không tin. Khi có tin đạo quân phía Đông của Đại Việt đến tập kích, Thái vẫn thản nhiên bày tiệc uống rượu. Đến lúc cánh quân của Lý Thường Kiệt kéo vào, quân Tống đã không chống đỡ nổi. Ngày 30 tháng 12 năm 1075, châu Khâm bị chiếm, Trần Vĩnh Thái và các thủ hạ Văn Lương, Ngô Phúc, Tưởng Cẩn, Tống Đạo đều bị bắt và bị giết.

Quân của Lý Thường Kiệt không phải giao chiến một trận nào, lấy hết của cải mang đi. Người dân địa phương của Bắc Tống dù sau này thương Trần Vĩnh Thái bị giết mà lập đền thờ nhưng vẫn chê cười Thái là người ngu muội; sau này hễ thấy ai không thông tuệ thì bị dân gian gọi là “Trần Thừa Chỉ” (Thừa Chỉ là hàm chức của Trần Vĩnh Thái).

Nghe tin Khâm châu thất thủ, quân Tống ở Liêm Châu cố phòng bị nhưng không chống nổi. Ngày 2 tháng 1 năm 1076, Liêm Châu thất thủ, chủ các trại Như Tích và Để Trạo đều tử trận. Phía Tống bị quân Đại Việt bắt tới 8.000 tù binh dùng để đưa đồ vật cướp được xuống thuyền sau cũng bị đem giết hết. Quan trấn thủ Khâm Châu lúc bấy giờ là Lỗ Khánh Tôn và các thủ hạ Lương Sở, Chu Tông Thích, Ngô Tông Lập đều bị giết.

Sau đó, Lý Thường Kiệt dẫn quân đến Ung Châu phối hợp cùng đạo quân phía Tây quyết tâm hạ thành châu Ung.

– Còn tiếp…

Đường Tân

Theo NTD Việt Nam