Câu chuyện này tương tự như việc trao cần câu hay con cá cho người lao động mà nhân tố quyết định lại không nằm trong các cuộc bàn thảo tăng lương của Hội đồng tiền lương quốc gia, mà là ở năng lực cạnh tranh dựa vào sự phát triển yếu tố TFP của doanh nghiệp.  

Hội đồng tiền lương quốc gia đang chuẩn bị cho kỳ xét tăng lương tối thiểu năm 2017. Theo lộ trình, đến đầu năm 2018, lương tối thiểu phải đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu của người lao động. Theo Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, hiện nay lương tối thiểu chỉ đáp ứng 74-75% nhu cầu sống tối thiểu. Theo đó, trong hai năm 2016, 2017, mức lương tối thiểu phải tăng khoảng 25-26% so với mức lương hiện tại.

Đây được coi là một thách thức đối với giới doanh nghiệp và kể cả người lao động, khi tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chủ yếu dựa vào yếu tố vốn (52-53%) và yếu tố lao động (19-20%), TS Bùi Sỹ Lợi – Phó chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội cho biết trên báo Diễn đàn Doanh nghiệp.

Yếu tố thứ ba – năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) chỉ chiếm 27-29%. TFP phản ánh sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, là chỉ tiêu đo lường năng suất của đồng thời cả “lao động” và “vốn” trong một hoạt động cụ thể hay cho cả nền kinh tế, tức là chất lượng các yếu tố đầu vào là lao động và vốn.

Điều này cho thấy, khả năng cạnh tranh của chúng ta là thấp, vì chi phí nhân công của ta chiếm khoảng 18,3% trong giá thành sản phẩm, cao hơn khu vực ASEAN (16,8%)”, ông Lợi cho biết.

Khẳng định họp tăng lương tối thiểu vùng là “để bảo vệ người lao động yếu thế”, tuy nhiên ông Lợi cũng thừa nhận lương tối thiểu sẽ chỉ đạt được hiệu quả nhất nếu hài hòa được cả ba yếu tố: đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu của người lao động, tăng năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của DN.

Nếu ngược lại điều này thì sao? Nếu lương tối thiểu vùng bị áp mức tăng quá cao, các khoản chi phí khác như bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, phí công đoàn… doanh nghiệp phải đóng cũng tăng thêm. Người lao động cũng sẽ mất đi một phần thu nhập hàng tháng để đóng các loại phí nói trên.

Nếu doanh nghiệp phải tăng lương, tăng các khoản chi phí khác, tất cả các chi phí trên sẽ tính vào chi phí sản xuất sản phẩm. Điều này làm tăng giá thành sản phẩm, dẫn đến giảm sức cạnh tranh đối với hàng nội địa và hàng ngoại nhập.

Chi phí tăng cao trong khi sức cạnh tranh giảm, chủ doanh nghiệp sẽ tính đến việc phải cắt giảm lao động để đảm bảo lợi nhuận tái đầu tư. Hệ quả là dẫn đến thất nghiệp gia tăng. Điều này vẫn đúng với kịch bản doanh nghiệp bị phá sản, phải giải thể.

Ngoài ra, tình trạng nợ đọng thuế, nợ bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp sẽ còn tiếp diễn.

Do đó, việc tăng lương tối thiểu không tương ứng với năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không khiến lương thực lĩnh của người lao động tăng lên, mà trái lại, dẫn tới nguy cơ suy yếu, đổ vỡ của doanh nghiệp, thất nghiệp của người lao động.

Đưa ra quan điểm về việc tăng lương, đại diện giới chủ lao động, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Vũ Tiến Lộc cho biết việc tăng lương thời gian tới cần bảo đảm bù đắp được sự mất giá của đồng tiền, tức là phù hợp với tỉ lệ lạm phát. Chính phủ đang cố gắng duy trì mức độ lạm phát từ 4%-5%. Việc tăng LTT phải bảo đảm bù được sự mất giá đó. Ngoài ra, việc tăng lương còn phải căn cứ vào thực tế tỉ lệ tăng năng suất lao động hằng năm với mức tăng trung bình hiện tại khoảng 3%/năm, theo Báo Người Lao Động tháng 7/2015.

Trên Báo Diễn đàn Doanh nghiệp tháng 4/2016, doanh nhân Lê Thị Thanh Lâm – TGĐ Cty thương mại Sài Gòn Food cho biết việc tăng lương tối thiểu vùng nên để cơ chế thị trường điều tiết, bởi vì doanh thu của doanh nghiệp căn cứ phần lớn vào năng suất lao động. “Việc tăng lương tối thiểu sẽ làm cào bằng thu nhập giữa bộ phận người lao động thu nhập thấp, và bộ phận người có thu nhập cao hơn”, trong khi sẽ tạo sức ép lớn đối với DN khi mà DN đang phải tính toán từng đồng chi phí để tồn tại trong bối cảnh chỉ có 30% DN kinh doanh có lãi như hiện tại – bà Lâm cho hay.

Ở nhiều nước vấn đề số 1 họ quan tâm theo tôi là con số về thất nghiệp. Người ta rất sợ khi tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Từ đó, người ta rất quan tâm tới giới chủ cũng như việc làm thế nào để khuyến khích giới chủ tạo nhiều công ăn việc làm cho xã hội”, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho biết trong cuộc phỏng vấn vào tháng 4/2016 trên News Zing.

Những con số tham khảo

Số doanh nghiệp tạm dừng hoạt động và ngừng hoạt động hoàn toàn:

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (Bộ KH&ĐT), chỉ riêng trong tháng 1 năm 2016, hơn 12.000 doanh nghiệp tạm dừng hoạt động, tăng 27,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hơn 5.000 doanh nghiệp phải tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 7.200 doanh nghiệp ngừng hoạt động, đóng mã số thuế.

Trong cả năm 2015, trên 80.000 doanh nghiệp phải đóng cửa, trong đó gần 9.500 doanh nghiệp giải thể, chấm dứt hoàn toàn hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Năm 2014, con số này là 67.823. Trong tổng số gần 70.000 doanh nghiệp phá sản nói trên, phần lớn là những doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng.

Trong các năm 2013, 2012, 2011, số lượng các doanh nghiệp phá sản lần lượt là 60.767, 54.261 và 52.739.

Như vậy, số lượng doanh nghiệp phá sản đang tăng liên tục qua các năm; năm 2015 tăng gấp 1,5 lần so với năm 2011 (sau 4 năm). Chỉ riêng tháng 1 năm 2016, số lượng doanh nghiệp giải thể cao gấp đôi bình quân theo tháng của năm 2015.

Tỷ lệ thất nghiệp:

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên) năm 2015 là 2,31%.

Tỷ lệ này trong năm 2014 là 2,10%, năm 2013 là 2,18%.

Từ quý 1/2014 đến quý 3/2015, số người thất nghiệp có trình độ đại học trở lên tăng gấp gần 1,4 lần.

Bản tin cập nhật thị trường lao động các quý năm 2014, 2015. (Nguồn: ilssa.org.vn)
Số người thất nghiệp có trình độ đại học trở lên – Bản tin cập nhật thị trường lao động các quý năm 2014, 2015. (Nguồn: Viện Năng suất Việt Nam)

Năng suất lao động:

Trong 9 năm, từ 2006 đến 2014, năng suất lao động Việt Nam giảm liên tiếp 6 năm. Tỷ lệ năng suất lao động năm 2014 chỉ cao hơn so với con số của năm 2007 vỏn vẹn 0,13%.

Tốc độ tăng năng suất lao động của Việt Nam qua các năm, từ 2006-2014. (Nguồn: Viện Năng suất Việt Nam)
Tốc độ tăng năng suất lao động của Việt Nam qua các năm, từ 2006-2014. (Nguồn: Viện Năng suất Việt Nam)

Năng suất lao động Việt Nam thuộc hàng thấp nhất trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, theo báo cáo về năng suất lao động quốc tế năm 2012.

Năng suất lao động Việt Nam thuộc hàng thấp nhất trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, theo báo cáo về năng suất lao động quốc tế năm 2012. (Nguồn: Ngân hàng Thế giới - WB)
(Nguồn: Ngân hàng Thế giới)

Năng suất lao động của Việt Nam năm 2012 chỉ bằng 1/18 so với Singapore, 1/6 so với Malaysia và 1/3 so với Trung Quốc. Trong đó, giá trị kinh tế lớn nhất được tạo ra từ lao động trong lĩnh vực công nghiệp – xây dựng.

So sánh năng suất hàng năm trên mỗi lao động giữa các nước Singapore, Malaysia, Trung Quốc, Việt Nam (số liệu cuối năm 2014). (Nguồn: Theo vietq.vn)
So sánh năng suất hàng năm trên mỗi lao động giữa các nước Singapore, Malaysia, Trung Quốc, Việt Nam (số liệu cuối năm 2014). (Nguồn: vietq.vn)

Chi phí về BHXH, BHYT, BHTN, phí công đoàn:

Mức đóng các khoản BHXH, BHYT, BHTN mới nhất được áp dụng từ ngày 1/1/2016, theo Quyết định 959/QĐ-BHXH – Bảng tỷ lệ trích các khoản bảo hiểm, kinh phí công đoàn:

Loại bảo hiểm Doanh nghiệp đóng Người lao động đóng Tổng cộng
BHXH 18% 8% 26%
BHYT 3% 1,5% 4,5%
BHTN 1% 1% 2%
          Tổng cộng BH

32,5%

Kinh phí công đoàn 2% 0% 2%
Tổng phải nộp 34,5%

Từ 1/1/2016, tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương và phụ cấp lương.

Từ ngày 1/1/2018 trở đi, tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.

Phan A

Xem thêm: