Với chính sách phân cấp ngân sách hiện nay, các chuyên gia cho rằng nhiều khả năng sẽ vô tình tiếp tay cho các chi tiêu lãng phí và làm gia tăng nợ công ở các địa phương. 

Ngân sách nhà nước trong mấy năm qua khó khăn thế nhưng hàng loạt tỉnh, thành đã xây trụ sở, trung tâm hành chính rộng thênh thang với chi phí rất lớn, như Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu. Còn các tỉnh thành đã và đang lên kế hoạch xây dựng trụ sở nghìn tỷ đồng tiếp tục được nối dài như Nghệ An công bố dự định xây trụ sở 2.200 tỷ đồng, Hải Dương lên kế hoạch xây trụ sở có mức đầu tư hơn 2.000 tỷ đồng, Thái Bình cũng khoảng 2.000 tỷ đồng, Khánh hòa 4.000 tỷ, Hải Phòng 10.000 tỷ…

Người dân cũng cho rằng tính cấp bách của các dự án này chưa thật sự thuyết phục, đặc biệt trong bối cảnh cân đối ngân sách đang hết sức khó khăn, phải vay đảo nợ, bán vốn Nhà nước tại DN để bù thâm hụt…

Thời báo Ngân hàng cho hay, TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn, Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright đã làm một phép so sánh giữa kinh phí xây trụ sở với thu ngân sách Nhà nước (NSNN) của các tỉnh thành nói trên để minh họa căn bệnh “vung tay quá trán” đang tiếp diễn.

Đơn cử như Nghệ An, so với số thu NSNN dự toán năm 2014 là 6.420 tỷ đồng thì kinh phí xây trụ sở như ý định nêu trên chiếm tới 34%. Tương tự như vậy, tỷ lệ của Hải Dương là 31%, riêng Thái Bình với số thu NSNN khoảng 2.840 tỷ đồng thì riêng kinh phí xây trụ sở đã lên tới 70%.

Cá biệt là trường hợp của Sóc Trăng, tỉnh này đã xây dựng trụ sở với kinh phí 2.200 tỷ đồng, trong khi số thu NSNN dự toán trong năm 2014 chỉ vào khoảng 930 tỷ đồng. Như vậy, kinh phí xây trụ sở cho chính quyền đã cao gấp khoảng 2,4 lần so với con số thu ngân sách toàn tỉnh trong 1 năm. “Tỉnh nghèo hơn lại có vẻ sang chảnh hơn tỉnh giàu,” ông Tuấn bình luận.

Việc xây trụ sở tỉnh thành nghìn tỷ diễn ra liên tục trong mấy năm trở lại đây cho thấy dường như đang hình thành một “cuộc đua” đầu tư. Trong dòng chảy đó, ngay cả những địa phương vẫn còn phải “ngửa tay” nhận trợ cấp từ ngân sách Trung ương vẫn tiếp tục đầu tư và có ý định đầu tư vào các dự án xây dựng trụ sở, tượng đài, quảng trường…

Kể cả các tỉnh mà tỷ lệ hộ nghèo cao thuộc nhóm đầu cả nước cũng sẵn sàng chi số tiền lớn gấp vài lần ngân sách cả tỉnh trong một năm cho những công trình “hào nhoáng”. Điều này cảnh báo các địa phương hiện có thể là một trong những nguồn cơn chủ yếu làm phát sinh nợ công, theo ý kiến của nhiều chuyên gia kinh tế.

Vậy, tại sao nợ của chính quyền địa phương chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu nợ quốc gia? Bởi theo thông tin từ Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính), tính đến hết năm 2012, nợ Chính phủ chiếm 77,6%, nợ Chính phủ bảo lãnh chiếm 20,9% và nợ chính quyền địa phương chỉ chiếm 1,5% tổng nợ. Đối chiếu một con số khác, theo IMF, tính đến tháng 7/2015, trong cơ cấu nợ công của Việt Nam thì 79,6% là nợ Chính phủ, 19% là nợ Chính phủ bảo lãnh, và khoảng 1,4% là nợ của chính quyền địa phương.

Tôi không tin lắm vào con số này. Nợ chính thức, nợ ngầm của địa phương không thể nhỏ như vậy,” Chuyên gia kinh tế, TS. Vũ Đình Ánh bình luận. Theo ông Ánh, quy mô nợ địa phương chưa được phản ánh đúng mức và thực chất, do đó bức tranh về tình trạng nợ nần có thể rất khác so với hiện nay.

  1. Đỗ Thiên Anh Tuấn cũng cho biết, con số thống kê chỉ là bề nổi, trong khi nợ ngầm của địa phương chắc chắn phải lớn hơn rất nhiều lần. Ông lý giải, tỷ lệ nợ địa phương khiêm tốn như hiện nay là do Chính phủ đang gánh nợ thay cho các địa phương, thông qua trợ cấp cân đối ngân sách và cả cân đối mục tiêu. Chính vì vậy, gánh nặng và rủi ro của nợ công đã không được bộc lộ ở địa phương, theo đó đang có những rủi ro ngân sách chưa được phản ánh đúng.
  2. Đặng Văn Thanh, Chủ tịch Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam cũng tỏ ra đặc biệt lo ngại, với cơ chế phân cấp ngân sách như hiện nay thì vẫn sẽ có tình trạng địa phương ỷ lại vào ngân sách Trung ương.

Theo ông Thanh, thẩm quyền quyết định tỷ lệ phân chia nguồn thu, bổ sung ngân sách chưa rõ ràng và minh bạch, khiến cơ chế xin cho vẫn tiếp tục diễn ra, thậm chí là ngày càng tinh vi hơn, quyết liệt hơn. Điều này dẫn đến thực tế là địa phương nào “chạy” dự án tốt, xây dựng dự án nhiều thì được bổ sung nhiều chương trình mục tiêu hơn, chứ không hẳn là do nhu cầu thực.

Vì những rủi ro ngân sách ở địa phương đang chưa được phản ánh đúng như vậy, các chuyên gia lo ngại một số chính sách phân cấp hiện nay nhiều khả năng sẽ vô tình tiếp tay cho các chi tiêu lãng phí.

Ông Thanh cho biết, Luật NSNN mới sửa đổi có độ mở khá rộng về phân cấp, khi cho phép NSNN địa phương cũng được bội chi để đáp ứng nhu cầu đầu tư của nhiều tỉnh thành. Song ông Thanh băn khoăn, nếu không có cơ chế kiểm soát bội chi giới hạn ở mức độ nhất định thì nhiều tỉnh nghèo vẫn sẽ tiếp tục tình trạng chi tiêu phung phí, đẩy nợ quốc gia ngày càng tăng lên theo hướng thiếu bền vững.

Nợ công của địa phương và nợ đọng XDCB đang rất lớn

Theo báo cáo của chính phủ tháng 11/2014, nợ đọng xây dựng cơ bản (XDCB) của các địa phương hiện đang rất lớn, đã yêu cầu các địa phương dành 30% ngân sách hàng năm để thanh toán nợ đọng XDCB. Tuy nhiên kết quả vẫn chưa được cải thiện, hàng chục ngàn doanh nghiệp (DN) đang khó khăn, thậm chí trên bờ vực phá sản chỉ vì làm công trình cho các địa phương mà hàng mấy năm rồi vẫn chưa được trả tiền.

Đến cuối 2013, tổng số nợ XDCB từ nguồn vốn ngân sách và vốn trái phiếu chính phủ cả nước là 57,9 nghìn  tỉ đồng, chiếm 7 % của tổng thu ngân sách toàn quốc 2014 ( 814,1 nghìn tỷ đồng), chiếm 37,8% chi XDCB năm 2014( 153,1 nghìn tỷ) cho thấy số nợ đọng này là con số không nhỏ.

Số nợ này sau khi được xử lý có giảm đi, đến tháng 6/2014, tổng nợ đọng XDCB còn 44,59 nghìn tỉ đồng.

Các tỉnh, thành phố nợ XDCB là chủ yếu. Tính đến 6/2014 các tỉnh, thành nợ 35.453 tỉ đồng, nhưng chưa có giải pháp khắc phục hiệu quả.

Lý do là theo luật ngân sách 2004, việc phân bổ vốn đầu tư được giao chủ yếu cho các ngành và địa phương, tạo chủ động cho các đơn vị. Với quy định trên, hầu như đã giao toàn quyền cho các ngành và địa phương thẩm định và quyết định đầu tư. Thực trạng gần như là “khoán trắng” đó dẫn đến chỗ các cơ quan trung ương cũng chỉ giám sát, kiểm tra chiếu lệ mang tính hình thức, không có chế tài kỷ luật nghiêm ngặt, dẫn tới quản lý, điều chỉnh vĩ mô trong đầu tư công đã bị buông lỏng.

Hệ quả là các dự án do các địa phương quyết định quá nhiều, trong xu thế xây dựng “đại công trường” như tại Hà Giang, với kỳ vọng bán đất, hoặc đổi đất lấy hạ tầng. Nhưng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách cả trung ương và địa phương lại hạn hẹp và bị dàn trải. Rất nhiều dự án bị thiếu vốn giữa chừng, phải thực hiện cầm chừng, kéo dài thời gian kết thúc, chậm đưa vào sử dụng, do vậy hiệu quả ngày càng giảm.

Đến nay, Hà Nam dẫn đầu danh sách các tỉnh thành có số nợ đọng XDCB lớn, đến ngày 6/2014, nợ 3.497 tỉ đồng, giảm chút ít so với mức nợ 3.811 tỉ đồng cuối năm 2013.

Tiếp đến là Hà Giang, nơi trước kia được gọi là “đại công trường” sử dụng vốn vay ngân sách, vốn trái phiếu chính phủ để đầu tư tràn lan. Đến hết năm 2013 Hà Giang nợ ngân sách 5.300 tỉ đồng nhưng đến 6/2014 còn nợ 3.804 tỉ đồng. Hà Nội, cuối năm 2013 nợ hơn 3.200 tỷ đồng; Sáu tháng đầu năm 2014, số nợ tăng lên 4.000 tỷ đồng (trong đó nợ của thành phố khoảng hơn 1.000 tỷ đồng, còn lại là nợ của các quận, huyện).

Tiếp theo trong danh sách là Vĩnh Phúc với số nợ 2.977 tỉ đồng, Thái Bình 2.780 tỉ đồng, Đà Nẵng 2.583 tỉ đồng, Phú Thọ 1.826 tỉ đồng…

Mức nợ của các tỉnh, thành rất lớn trong khi thu ngân sách tại địa phương lại rất khó khăn mới là vấn đề. Như Hà Nam có mức nợ xấp xỉ 3.500 tỉ đồng nhưng thu ngân sách tỉnh này năm 2014 dự kiến chỉ đạt 2.100 tỉ đồng, chi đầu tư phát triển thường chiếm 30%, tức là khoảng 630 tỷ/năm, không cân đối được khả năng trả nợ.

Thành Tâm

Xem thêm: