Hiện nay, Việt Nam có tỷ lệ sinh viên khi mới ra trường bị thất nghiệp đang ở mức cao. Theo Tổng cục thống kê, Quý III năm 2015, cả nước có hơn 340.000 người có trình độ cao đẳng chuyên nghiệp, trình độ đại học trở lên thất nghiệp, và con số này đang có xu hướng tiếp tục tăng.

Trước thực trạng này, Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thực hiện lộ trình từ giảm đến dừng hẳn tuyển sinh hệ cao đẳng và trung cấp trong trường đại học.

Theo đó, các cơ sở giáo dục đại học đang đào tạo cao đẳng mỗi năm phải giảm chỉ tiêu tuyển sinh ít nhất 30% so với năm 2015 để tiến tới dừng tuyển sinh trình độ này trước năm 2020. Cơ sở giáo dục đại học đang đào tạo trung cấp phải dừng tuyển sinh trình độ này trước năm 2017.

Quyết định này của Bộ Giáo dục và Đào tạo được đưa ra nhằm hạn chế tỷ lệ sinh viên thất nghiệp đang ngày càng tăng cao, đồng thời cũng cho thấy sự khủng hoảng trong hệ thống giáo dục.

Vì sao sinh viên thất nghiệp?

Thực tế cho thấy, trong hàng nghìn sinh viên mới ra trường mỗi năm, chỉ có một bộ phận sinh viên được “lọt vào mắt” những nhà tuyển dụng, bởi lẽ, các sinh viên mới ra trường hầu như chưa có kỹ năng để làm việc.

Khi còn đi học, nhiều sinh viên cho rằng để có thể đáp ứng được yêu cầu của công việc thì cần phải có các chứng chỉ vi tính, ngoại ngữ,… nên đổ xô đi học tại các trung tâm để có được các bằng cấp này.

Tuy nhiên, trong thực tế, các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty nước ngoài lại rất chú trọng đến kỹ năng làm việc, xử lý tình huống, kỹ năng ứng xử, giao tiếp, truyền đạt, khả năng làm việc theo nhóm,…

Các công ty thường đưa ra thời gian thử việc từ 1 đến 2 tháng, và trong khoảng thời gian này, không có nhiều những ứng viên thực sự có khả năng tiếp thu, xử lý công việc. Ngay cả những sinh viên tốt nghiệp loại giỏi với điểm số rất cao, qua thử việc thực tế, các sinh viên này lại không được đánh giá cao và không được nhận làm.

Có một nghịch lý hiện đang tồn tại là dù số lượng sinh viên ra trường có tỷ lệ thất nghiệp cao nhưng các công ty vẫn thiếu người làm, bởi lẽ, sinh viên không có kỹ năng để đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng.

Quý III năm 2015, cả nước có hơn 340.000 người có trình độ cao đẳng chuyên nghiệp, trình độ đại học trở lên thất nghiệp. (Ảnh minh họa/Internet)
Quý III năm 2015, cả nước có hơn 340.000 người có trình độ cao đẳng chuyên nghiệp, trình độ đại học trở lên thất nghiệp. (Ảnh minh họa/Internet)

Vì sao sinh viên mới ra trường không có kỹ năng làm việc?

Nhiều nhà chuyên môn cũng như các nhà tuyển dụng đều cho rằng, khâu đào tạo tại nhiều trường hiện đều rất kém. Nhiều sinh viên sau khi thi trượt ngành mình mong muốn thì chuyển sang ngành học khác hoặc học các ngành không theo lựa chọn của bản thân mà theo sự “ép buộc” từ gia đình, dẫn đến việc chỉ học để có được tấm bằng khi ra trường.

Ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, sinh viên học đến đâu sẽ được thực hành ngay đến đó, nên sẽ nhớ rất lâu. Nhiều vấn đề thay vì phải giảng giải lý thuyết như ở Việt Nam,  thì sinh viên nước ngoài được thực hành ngay. Mỗi khi thực tập, sinh viên được đến các công ty và thực hành ngay tại đó, vì thế kỹ năng làm việc của sinh viên được hình thành ngay từ khi bắt đầu vào học tại trường.

Ở Việt Nam, chương trình cử nhân trung bình phải mất 4 năm, tách bạch giữa học và hành. Trong 3,5 năm đầu của khóa học, sinh viên được học “nhồi nhét” kiến thức, chỉ còn một kỳ cuối của khóa học là được dành cho cả chương trình thực tập và làm đề án tốt nghiệp. Nội dung chương trình thực tập ngắn, lại rất sơ sài, nên cuối cùng, sau 4 năm học, sinh viên chỉ có kiến thức lý thuyết “nhồi nhét”, còn kỹ năng làm việc được trang bị rất ít, hoặc thậm chí không có.

Nhiều sinh viên đi tìm việc làm sau khi tốt nghiệp đã bị nhà tuyển dụng loại sớm bởi cách trình bày hồ sơ xin việc sơ sài, ngôn ngữ sử dụng thiếu tính chuyên nghiệp, thậm chí địa chỉ email liên lạc cũng thiếu nghiêm túc,…

sinh vien that nghiep
Rất nhiều sinh viên sau khi ra trường không tìm được việc làm. (Ảnh: Internet)

Năng suất lao động của Việt Nam đang ở mức nào?

Việc đào tạo nhân lực với chất lượng, hiệu quả kém cũng là nguyên nhân lớn dẫn đến năng suất lao động của Việt Nam thấp. Theo số liệu của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế ILO, năm 2014, năng suất lao động của Việt Nam được xếp vào nhóm thấp nhất của khu vực châu Á Thái Bình Dương: thấp hơn Thái Lan 2,7 lần; Philippines 1,8 lần; Indonesia 2,4 lần; Malaysia 6 lần; Singapore 15,6 lần; Brunei 17,6 lần.

Năng suất lao động thấp như vậy sẽ là một thiệt thòi lớn cho lao động Việt Nam khi hội nhập quốc tế.

Làm sao để giải quyết vấn đề sinh viên thất nghiệp?

Đứng trước áp lực sinh viên mới ra trường có tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra lộ trình ngừng tuyển sinh hệ cao đẳng và trung cấp tại các cơ sở đào tạo đại học nhằm tập trung nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân và thạc sỹ cũng như giảm tỷ lệ sinh viên thất nghiệp.

Tuy nhiên đây chỉ là biện pháp trước mắt, về lâu dài, ngành giáo dục cần giải quyết nhiều vấn đề khác nhằm giảm thiểu tình trạng thất nghiệp này.

Giáo dục ở Việt Nam hiện nay không gắn liền giữa đào tạo và nhu cầu. Chỉ tiêu tuyển sinh được mỗi trường tự đưa ra nhằm đáp ứng nhu cầu giảng dạy mà chưa tiếp cận với nhu cầu việc làm thực tế theo từng ngành. Chính vì thế, số lượng sinh viên ra trường hàng năm đều cao hơn rất nhiều so với nhu cầu thực tế, số lượng sinh viên dư ra sẽ thất nghiệp. Chi phí đào tạo một sinh viên để hoàn thành cả khóa học là không hề nhỏ, vì thế, đặt trong hoàn cảnh sinh viên ra trường thất nghiệp một vài năm khi kiến thức dần bị mai một, thì công sức, tiền bạc đầu tư cho việc học xem như đổ sông, đổ biển.

Thời gian trước, nhiều trường đại học mới liên tiếp xin thành lập, các trường cũng xin mở phân hiệu, chi nhánh ở các địa phương khác nhau nhằm tăng chỉ tiêu tuyển sinh. Tuy nhiên, việc mở rộng này phần lớn là để tăng lợi nhuận mà không hướng tới việc nâng cao hiệu quả giảng dạy, khiến số lượng sinh viên thất nghiệp ngày càng tăng thêm. Hệ thống các cơ sở đào tạo này cần được rà soát và cắt giảm cho phù hợp với nhu cầu thực tế.

Một điều quan trọng nữa là cần nâng cao chất lượng đào tạo, kỹ năng làm việc cho sinh viên. Việc học đi đôi với thực hành, học đến đâu có thể thực hành ngay đến đó khiến việc giảng dạy không còn mang ý nghĩa trừu tượng mà mang tính ứng dụng thiết thực, sinh viên cũng không còn phải lo lắng, chán nản vì không biết học để làm gì, các công ty thông qua đó cũng có thể tuyển chọn được ngay những ứng viên đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng.

Đối với việc nâng cao kiến thức cũng như khả năng giảng dạy của giáo viên, ở nhiều nền giáo dục tiên tiến, các giảng viên đều tham gia nghiên cứu khoa học, qua đó cập nhật ngay kiến thức vào công tác giảng dạy của mình. Hiện nay, hình thức giảng dạy “thầy đọc, trò ghi”, được hài hước gọi là “phổ thông cấp 4” lại đang tồn tại và được áp dụng phổ biến ở Việt Nam.

Để nâng cao chất lượng giảng dạy, năm 2008, Bộ Giáo dục & Đào Tạo đã đưa ra 10 tiêu chuẩn để “đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học”. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn này được cho là có ý nghĩa về quản lý giáo dục hơn là đánh giá về chất lượng giáo dục tại cấp học này.

Sự đột phá trong chất lượng giáo dục đại học tới nay thực sự cần có những tiêu chí quốc tế để đánh giá. Sinh viên khi có được kiến thức cũng như các kỹ năng tốt sẽ đáp ứng được nhu cầu lao động với tiêu chuẩn ngày càng cao, nhất là trong bối cảnh hình thành thị trường lao động chung ASEAN.

Ngọn Hải Đăng

Xem thêm: