Không cổ xưa như tranh thủy mặc, không chính xác như tranh hiện đại, không khó hiểu như tranh trừu tượng, Tranh Đông Hồ cho bạn thấy nét dung dị, mộc mạc, nhưng rất hợp lí hợp tình. Những bức tranh Đông Hồ với cảnh sinh hoạt văn hóa theo dòng lịch sử đã để lại trong lòng người chơi tranh một cảm giác thật gần gũi và thân thương.

Chúng ta cùng tìm về nơi xuất xứ của dòng tranh này – làng Đông Hồ,


Trung tâm giao lưu văn hóa tranh dân gian Đông Hồ (Ảnh Hotdeal.vn)

Làng tranh Đông Hồ xưa nằm trên bờ nam sông Đuống, cạnh bến đò Hồ, nay là cầu Hồ – là làng nghề nổi tiếng về tranh dân gian, thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh cách Hà Nội chừng trên 35 km.

Tìm hiểu về tranh.

Để có được một bức tranh Đông Hồ thì người làm tranh phải làm một cách thủ công từng công đoạn như khắc ván in, làm giấy điệp, pha mầu, in tranh.

Giấy in tranh Đông Hồ được gọi là giấy điệp: người ta nghiền nát vỏ con điệp, một loại sò vỏ mỏng ở biển, trộn với hồ. Hồ dùng để quét nền tranh thường được nấu loãng từ bột gạo tẻ hoặc bột sắn, hồ nấu từ bột nếp thường dùng để dán, rồi dùng chổi lá thông quét lên mặt giấy dó. Chổi lá thông tạo nên những ganh chạy theo đường quét và vỏ điệp tự nhiên cho màu trắng lấp lánh những mảnh điệp nhỏ dưới ánh sáng, có thể pha thêm màu khác vào hồ trong quá trình làm giấy điệp.


Khách tham quan đang tự in những bức tranh cho mình (Ảnh: hotdeals.vn)

Màu sắc sử dụng trong tranh là màu tự nhiên từ cây cỏ như đen từ than xoan hay than lá tre, mầu xanh từ gỉ đồng hay lá chàm, mầu vàng từ hoa hòe, mầu đỏ từ sỏi son hay gỗ vang, v.v. Đây là những màu khá cơ bản, không pha trộn và vì số lượng màu tương ứng với số bản khắc gỗ, nên thường thường tranh Đông Hồ chỉ dùng tới 4 màu mà thôi. Sau khi in thành tranh, kể cả cả lúc tranh khô, người xem vẫn cảm nhận được màu sắc của tranh thật tươi tắn như lúc tranh ướt. Các hình khối, mảng nọ đặt cạnh mảng kia có sự ăn ý hài hoà một cách tự nhiên.


Ván khắc in tranh “Chăn trâu thổi sáo” của nhà nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam (Ảnh Wiki)

Cách in tranh khá đơn giản: Tranh Đông Hồ được khắc trên ván gỗ, trước hết là một bản nét, rồi tranh có bao nhiêu sắc thì thêm bấy nhiêu bản màu. Mỗi bức tranh tối đa có 4 mầu sắc khác nhau, và được in từ một bộ ván khắc. Người làm tranh chỉ cần đặt ván khắc và bản mầu và in thủ công lên giấy điệp, từng mầu một hiện ra theo đúng thiết kế của bức tranh.


Một không gian làm tranh (Ảnh: hotdeals.vn)

Tranh Đông Hồ được phân thành 5 loại:

  • Tranh Tâm linh như bộ Ngũ sự, Thần tài, Vũ đinh – Thiên ất, Tử vi – Trấn trạch…
  • Tranh lịch sử như Phù Đổng Thiên Vương (Thánh Gióng), Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Trần Hưng Đạo, Quang Trung…
  • Truyện tranh: Truyện Kiều, Thạch Sanh, Truyện Lục Vân Tiên, Tây Du Kí …
  • Tranh chúc tụng là phổ biến nhất, ví như bộ tranh tứ quí Vinh hoa – Phú quý – Nhân nghĩa – Lễ trí, cặp tranh Tiến tài – Tiến lộc, Nghinh xuân, Vinh qui bái tổ, ông Tơ – bà Nguyệt, Gà đàn, Gà thủ hùng, tranh về lợn âm dương…
  • Tranh khắc họa sinh hoạt như tranh Đánh ghen, Chăn trâu thổi sáo, Chăn trâu thả diều, Nhà nông, Đám cưới chuột, Hứng dừa,

Mỗi bức tranh đều thể hiện một truyền thuyết hoặc một câu chuyện ngụ ngôn mang tính triết lí, những thông điệp đầy màu sắc về đạo đức, luân lí và tín ngưỡng có từ ngàn năm của cha ông.


Không gian trưng bày tranh (Ảnh vnbamboo.vn)

Mỗi bức tranh thể hiện tính dí dỏm, khung cảnh ấm cúng của Tết Nguyên Đán: hạnh phúc, may mắn và thịnh vượng. Các con vật gần gũi với làng quê như gà, vịt, trâu, rồng và cá là biểu trưng cho hạnh phúc, thịnh vượng, sự cần cù, thông minh.

Sự vật và hiện tượng trong tranh không sát với thực tế đến từng chi tiết, và cũng có khá nhiều tranh trái với thực tế như tranh em bé ôm con tôm, con cá với kích thước rất lớn, nhưng lại rất sống động, có hồn. Nghệ nhân làm tranh dường như ít quan tâm đến những qui tắc, công thức hình họa mà dụng công để thổi vào đó sự rung cảm của tâm hồn nghệ sĩ với những triết lí nhân sinh…


Bức tranh Con lợn có xoáy âm dương (Ảnh wiki)

Do công nghệ phát triển, tranh dân gian làng Hồ bây giờ không còn nhiều người làm tranh như trước nữa. Xưa kia có 17 dòng họ đã quy tụ về làng để làm tranh, nhưng đến nay chỉ còn hai gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và Nguyễn Hữu Sam cùng con cháu là theo nghề tranh, gìn giữ di sản tranh Đông Hồ. Hàng năm làng Hồ có hội làng vào rằm tháng vào 3 âm lịch. Trong hội làng có những nghi thức truyền thống như tế thần, thi mã, thi tranh rất rộn ràng.

Như một thứ đặc sắc riêng có của Việt Nam, Tranh Đông Hồ được nhiều du khách tìm đến làng tranh để thăm và mua tranh về làm kỷ niệm. Một số khách sạn, nhà hàng từ Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh cũng về đây đặt những bức tranh khổ lớn để trang trí phòng khách hoặc phòng ăn lớn như khẳng định bản sắc của Việt Nam.

Khi tới đây du khách sẽ được nghe kể về nguồn nguồn gốc của làng tranh, ý nghĩa của mỗi bức tranh và còn tự mình trải nghiệm việc làm giấy điệp, rồi in những bức tranh mà mình yêu thích. Bạn sẽ cảm nhận được sức sống của dòng tranh dân gian này và hiểu được tại sao tranh Đông Hồ lại cuốn hút người yêu tranh đến vậy.

San San biên tập