Luật Đầu tư mới đã được Quốc hội thông qua ngày 26-11-2014, thay thế cho Luật Đầu tư năm 2005 liệu có ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh tế của Việt Nam? Bên cạnh việc quy định rõ hơn các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư, Luật này cũng chưa hoàn toàn tháo gỡ được những khó khăn, vướng mắc của Luật Đầu tư năm 2005, cụ thể là Nhà nước vẫn còn đưa ra nhiều biện pháp quản lý chặt chẽ, chưa thực sự đề cao quyền tự do đầu tư của nhà đầu tư.

Gỡ bỏ vướng mắc nổi cộm của Luật Đầu tư 2005

Một trong những vướng mắc lớn nhất của Luật đầu tư 2005 là quy định chồng chéo về việc đăng ký đầu tư với việc đăng ký doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp. Trước đây, nếu dự án đầu tư gắn liền với việc thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đầu tư phải bao gồm cả nội dung đăng ký kinh doanh và đăng ký doanh nghiệp. Thì Luật đầu tư 2014 đã bỏ nội dung đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp ra khỏi giấy chứng nhận đầu tư, đối tượng của Luật này chỉ là các dự án đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hiện chỉ bao gồm thông tin về dự án đầu tư.

Bên cạnh đó, Luật Đầu tư 2014 đã quy định rõ các ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh, thay vì cấm chung chung như Luật Đầu tư 2005. Theo đó, các ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh gồm: kinh doanh ma túy, kinh doanh hóa chất, khoáng vật cấm; kinh doanh động, thực vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm có nguồn gốc từ tự nhiên; kinh doanh mại dâm; mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người và các hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người. Bên cạnh đó, Luật Đầu tư 2014 có quy định riêng về ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Ngoài ra, Luật Đầu tư 2014 cũng bỏ bớt các quy định đối với các dự án đầu tư trong nước với quy mô nhỏ, cụ thể đối với các dự án đầu tư trong nước thì không cần có giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, doanh nghiệp chỉ cần hoạt động theo giấy đăng ký kinh doanh.

Cũng liên quan đến giấy chứng nhận đầu tư, Luật Đầu tư 2014 chỉ yêu cầu nhà đầu tư xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án của nhà đầu tư nước ngoài (tức là người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam) và dự án của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) mà trong đó nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% hoặc có nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp FDI nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên.

Các dự án có vốn FDI còn lại (có nhà đầu tư nước ngoài hoặc doanh nghiệp FDI nắm giữ dưới 51% vốn điều lệ) thì sẽ được đối xử như dự án đầu tư trong nước và không cần phải xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Điểm này khác với Luật Đầu tư 2005 là trước đây tất cả các dự án đầu tư có vốn nước ngoài (dù chỉ là 1% vốn điều lệ) cũng cần phải xin giấy chứng nhận đầu tư.

Bên cạnh đó, thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho các dự án đầu tư thuộc diện quyết định chủ trương đầu tư là 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản quyết định chủ trương đầu tư; đối với các dự án khác là 15 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan cấp phép nhận đủ hồ sơ; thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư điều chỉnh là 10 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan cấp phép nhận đủ hồ sơ.

Có thực sự nới lỏng quy định đầu tư

Đối với các ngành nghề kinh doanh, Luật Đầu tư quy định danh mục 267 ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Con số 267 ngành này cho thấy hầu hết các ngành nghề kinh doanh tại Việt Nam đều thuộc diện ngành nghề kinh doanh có điều kiện, có nghĩa là phải đáp ứng được những điều kiện, yêu cầu cụ thể thì mới được kinh doanh trong những ngành này. Với một số cụm từ chưa thật sát nghĩa thì việc liên hệ giữa ngành nghề kinh doanh này với ngành nghề kinh doanh khác là hoàn toàn có thể xảy ra, điều này có nghĩa là để có thể thực sự đầu tư vào một lĩnh vực kinh doanh nào đó, các doanh nghiệp vẫn còn mất nhiều công sức trong việc đáp ứng đủ các điều kiện quy định.

Bên cạnh đó, các lĩnh vực kinh doanh có điều kiện thì nhà nước đang quản lý bằng giấy phép hoặc điều kiện kinh doanh do luật chuyên ngành quy định và các cơ quan quản lý chuyên ngành đó kiểm soát. Do vậy, nếu bắt các nhà đầu tư phải làm thêm thủ tục đăng ký đầu tư đối với các dự án thuộc lĩnh vực này thì việc này đúng là tạo ra những thủ tục rắc rối, cản trở việc kinh doanh của các nhà đầu tư.

Đối với các dự án lớn, Luật Đầu tư 2014 yêu cầu ‘xin chủ trương đầu tư’ đối với các dự án lớn được quy định trong điều 30, 31, 32 của Luật Đầu tư, theo đó dự án sẽ phải xin chấp thuận chủ trương đầu tư từ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc UBND cấp tỉnh. Điều này có nghĩa là Luật mới đã thừa nhận chính thức thủ tục xin chấp thuận chủ trương đầu tư trong khi hiện nay việc này chỉ áp dụng không chính thức đối với một số dự án. Việc thừa nhận thủ tục phải xin chấp thuận chủ trương đầu tư có thể dẫn đến việc áp dụng tràn lan thủ tục xin chủ trương đầu tư, dẫn đến nguy cơ nhiều dự án không thuộc diện xin chủ trương đầu tư cũng bị bắt buộc phải xin chủ trương đầu tư. Ngoài ra, thủ tục xin chấp thuận chủ trương đầu tư có thể tạo cơ hội cho những nhà đầu tư dù năng lực không đủ mạnh cũng đi cửa sau để giữ chỗ cho dự án thông qua việc “chạy” chấp thuận chủ trương đầu tư, dẫn đến việc cấp dự án sẽ không minh bạch, tạo cơ hội cho tham nhũng phát triển.

Ngoài ra, Luật Đầu tư 2014 xác định nhà đầu tư nước ngoài dựa trên cả hai tiêu chí là quốc tịch và vốn đầu tư từ trong nước hay nước ngoài. Luật chia nhà đầu tư nước ngoài thành ba nhóm:

  1. Nhà đầu tư có quốc tịch nước ngoài;
  2. Doanh nghiệp Việt Nam có 51% vốn nước ngoài;
  3. Doanh nghiệp Việt Nam có dưới 51% vốn nước ngoài.

Nhóm (i) và (ii) bị áp dụng các điều kiện như nhà đầu tư nước ngoài (từ ngành nghề đầu tư đến thủ tục đầu tư…) còn nhóm (iii) được áp dụng các thủ tục và điều kiện như doanh nghiệp trong nước. Sự trộn lẫn này gây ra những bất cập nhất định, ví dụ như một doanh nghiệp có 51% vốn nước ngoài được coi là nhà đầu tư nước ngoài vàvà một doanh nghiệp có 50,9% vốn nước ngoài lại là doanh nghiệp trong nước.

Hơn nữa, cả khi doanh nghiệp có 51% vốn nước ngoài đó thành lập một doanh nghiệp mới ở Việt Nam, thì doanh nghiệp mới này cũng vẫn phải áp dụng các điều kiện và thủ tục như nhà đầu tư nước ngoài. Điểm này cũng gây ra sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp và đối với người nước ngoài thì việc này không hề khuyến khích họ đầu tư vào Việt Nam trong trường hợp đầu tư ở đây trên danh nghĩa là góp vốn.

Nói tóm lại, Luật Đầu tư mới được sửa đổi và ban hành vào tháng 11/2014 có thực sự có tác động tích cực đến việc đầu tư kinh doanh tại Việt Nam hay không thì cần phải qua một thời gian nữa mới có thể kiểm nghiệm được.

Muốn đạt được mục tiêu đẩy mạnh đầu tư cho nền kinh tế Việt Nam, một điều cần thiết là các văn bản, quy định dưới Luật cần phải được ban hành một cách thống nhất với những quy định trong Luật, không có những điều khoản trái ngược với Luật như đã từng xảy ra trong thời gian qua. Hơn nữa, các cơ quan hành chính Nhà nước, vốn là người cầm cân nảy mực thì cần phải có một cách thức làm việc thực sự hỗ trợ doanh nghiệp, chứ không chỉ nhằm mục tiêu “quản lý” và không tạo ra các vấn đề gây nhiễu khác.

Nhật Hạ tổng hợp

Từ Khóa: Thể Loại: Khác