Đầu những năm 2000, sự sụt giảm giá cổ phiếu của các công ty công nghệ, bê bối kiểm toán của tập đoàn Enrol và vụ khủng bố ngày 11/9 đã khiến kinh tế Mỹ rơi vào tình trạng suy thoái. Tăng trưởng kinh tế năm 2001 của Mỹ giảm mạnh, chỉ đạt 1% so với khoảng 4% những năm trước đó. Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã phải từng bước hạ lãi suất cơ bản (Fed fund rate) từ mức 6% (tháng 01/2001) xuống còn 1% (tháng 6/2004).

Động thái trên của FED đã thực sự phát huy hiệu quả. Chỉ trong vòng chưa đầy 1 năm, kinh tế Mỹ có sự chuyển biến rõ nét với GDP năm 2004 đạt 3,8%, tỷ lệ thất nghiệp dưới 5,5%. Một loạt các chỉ báo kinh tế khả quan đã khiến FED phải thay đổi lập trường chính sách. Trong vòng ba năm sau đó, FED đã tiến hành 17 lần tăng lãi suất, lên mức 5,25% vào tháng 9/2007. Nhiều nhà phân tích kinh tế cho rằng chu kỳ lãi suất tăng nhanh này đã góp phần tạo nên cuộc khủng hoảng trên thị trường nhà đất 2007-2008 tại Mỹ và cuộc đại suy thoái toàn cầu. Kết quả là một lần nữa FED đã phải thực thi chính sách nới lỏng tiền tệ, duy trì biên độ lãi suất điều hành trong khoảng 0-0,25% từ đầu năm 2009 đến nay, đồng thời thực hiện 03 gói kích thích kinh tế (còn gọi là chính sách tiền tệ nới lỏng định lượng – QE).

Với việc thực thi đồng thời các gói kích thích kinh tế và giữ lãi suất ở mức thấp, kinh tế Mỹ đã dần dần phục hồi. Năm 2012, GDP đạt 2,3%, tuy rằng tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao là 8,1%. Trong giai đoạn này FED khẳng định lãi suất trong khoảng 0%-0,25% là phù hợp cho đến khi tỷ lệ thất nghiệp đạt dưới 6,5%. Tuy nhiên khi tỷ lệ thất nghiệp về gần với mức kỳ vọng thì tại cuộc họp tháng 3/2014, FED nhấn mạnh chuyển hướng chú trọng đến yếu tố lạm phát trong quyết định điều chỉnh lãi suất. Mức lạm phát mục tiêu do Fed đưa ra là 2%. Kể từ tháng 10/2014, thời điểm FED chấm dứt gói kích thích kinh tế, thị trường đã kỳ vọng vào các đợt tăng lãi suất của FED vào tháng 3, tháng 6 hoặc tháng 9 năm nay. Tuy vậy, một lần nữa, những gì mà thị trường mong đợi lại được FED “vẽ ra” một kịch bản khác, đó là ngoài các mục tiêu cơ bản vốn có – lạm phát, thất nghiệp – mức lương của người lao động sẽ là yếu tố cần cân nhắc – một khía cạnh được đánh giá mang tính xã hội hơn là kinh tế.

Diễn biến trên đây đẩy thị trường vào những dự đoán mang tính trái chiều, mặc dù trong các báo cáo sau cuộc họp về chính sách của FED, FED vẫn giữ quan điểm các thông tin kinh tế là yếu tố chính trong quyết định về lãi suất. Hiện tại, tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ là 5,5% gần với mức dự kiến do FED đưa ra là 5-5,2% trong dài hạn. Tỷ lệ lạm phát năm 2014 là 0,8%, tăng trưởng kinh tế khoảng 2,4%. Trên thị trường tiền tệ, đồng USD đang trong xu hướng mạnh lên so với các đồng tiền chính khác. Một đồng tiền mạnh có thể làm suy giảm hoạt động xuất khẩu dẫn đến sự sụt giảm GDP.

Hiện tại, chênh lệch lãi suất trái phiếu chính phủ Mỹ và lãi suất trái phiếu các nước khác như Châu Âu, Nhật ở mức tương đối cao. Lãi suất trái phiếu chính phủ Đức loại 9 năm và Pháp loại 5 năm đã ở mức âm và được dự đoán sẽ tiếp tục giảm cùng với việc Ngân hàng Trung ương Châu Âu tiếp tục chương trình mua vào trái phiếu. Tương tự, lãi suất trái phiếu chính phủ Nhật loại 2 năm cũng đã giảm xuống mức âm, trong khi lãi suất trái phiếu chính phủ Mỹ loại 2 năm đã trên 0,5%. Trái phiếu chính phủ Mỹ vẫn đang là công cụ đầu tư ưa thích so với các loại trái phiếu chính phủ khác nhờ vào tính an toàn và mức sinh lời.

Ở bình diện quốc tế, kinh tế toàn cầu vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi. Các nền kinh tế chính như Anh, Châu Âu, Nhật đang phải duy trì chính sách nới lỏng định lượng để kích thích kinh tế. Đơn cử như, số liệu PMI mới nhất (tháng 3) cho thấy hoạt động sản xuất khu vực Châu Âu đã bị thu hẹp so với trước đây. Tỷ lệ thất nghiệp trong tháng 2 của Châu Âu là 11,3%. Những triển vọng về sự hồi phục kinh tế khu vực này chưa mấy rõ ràng. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã thực hiện những đợt bơm tiền ra thị trường vào tháng 10 năm ngoái, đồng thời mới cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đang trên đà suy giảm. Một loạt các nền kinh tế khác ở Châu Á cũng đang thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng như Thái Lan, Singapore.

Trong bối cảnh như vậy, FED sẽ phải cẩn trọng khi lựa chọn thời điểm thắt chặt tiền tệ cũng như tốc độ tăng sau đó. Theo đó, Fed fund rate sẽ được nâng lên khi các yếu tố nội tại của nền kinh tế như lạm phát, thị trường lao động cùng phát triển bền vững, hài hòa theo đúng mục tiêu. Đồng thời việc tăng lãi suất trong khi các nền kinh tế trong khu vực chưa thực sự ổn định có thể tác động tiêu cực đối với Mỹ. Một khi lãi suất điều hành tăng, đồng USD sẽ tiếp tục mạnh lên kéo theo luồng vốn đầu tư đổ vào nước này, tạo nên áp lực lớn cho nền kinh tế. Như vậy, Mỹ lại có khả năng rơi vào chu kỳ suy thoái mới.

Theo thống kê của hãng tin Bloomberg, tỷ lệ thị trường dự đoán đợt tăng lãi suất đầu tiên của FED vào tháng 6 tới là 50% và vào tháng 9 là 46,6%. Tuy nhiên trong một phát biểu gần đây vào ngày 27/3, Bà Yellen, Chủ tịch FED cho rằng chính sách thắt chặt có thể tăng tốc, giảm tốc, đứng yên hoặc đảo ngược tùy thuộc sự phát triển của nền kinh tế thực và tỷ lệ lạm phát.

Chính trị cũng là một yếu tố cần tính đến khi dự đoán về chính sách lãi suất của FED. Đảng Dân chủ, để chiếm ưu thế trong cuộc bầu cử Mỹ vào năm 2016, sẽ cố gắng duy trì mức lãi suất vừa phải để có được sự tăng trưởng kinh tế ổn định nhằm tạo thêm việc làm, tăng lương cho người lao động. Tuy nhiên, kế hoạch này lại vấp phải phản ứng từ phía Đảng Cộng hòa, vốn chiếm đa số trong thượng viện.

Như vậy, nếu xét đến các yếu tố nội tại của nền kinh tế Mỹ và của toàn cầu, FED sẽ chưa vội thắt chặt tiền tệ ít nhất là cho tới cuối năm nay. Đồng thời Fed cũng sẽ thận trọng điều chỉnh lãi suất để đánh giá những tác động của nó cũng như phản ứng của thị trường, tránh lặp lại bài học đắt giá từ chu kỳ tăng lãi suất 2004-2007.

Hoa Mai